Đỗ Thị Hương Bình
Ngày tháng đong đưa nuôi
tôi khôn lớn
Thầy cũ trường xưa sống
mãi trong hồn.
Có thể nào quên bữa sáng
mưa tuôn
Mắt lấm lét, chân ngập
ngừng: nhập học.
Vuông lớp nhỏ, êm đềm
nằm một góc
Trứng cá bao quanh nép
sát chân tường
Thầy tôi đó, da nhăn bạc
tóc,
Giọng nói hiền hòa, ôi
quá là thương.
Ánh mắt bao dung, ẩn
dưới làn gương
Đảo quanh lớp, bạn tôi
đều khép nép.
Bạn nhỏ ạ, qua rồi khung
cửa hẹp
Bỏ trường xưa, tôi học
thói làm sang
Trường lầu cao, lớp học
rộng thênh thang
Thầy cô trẻ, bạn bè chi
cũng đẹp.
Nhưng bạn ạ! Một lần về
quê cũ
Thăm lại trường xưa, mái
rũ rêu phong
Tìm lại trường xưa, an
giấc ngàn năm
Xúc động dâng lên nghẹn
ngào tôi khóc./.
Ai từng là học trò thì đều có trường xưa, thầy cũ; cũng đều có
những ấn tượng sâu xa của tuổi học trò. Ký ức đời người có nhiều ngăn,
nhưng những năm tháng làm học trò thì thật là một dấu ấn khó phôi pha,
không nhắc nhớ thì thôi, nhắc nhớ làm ta phải chạnh lòng.
Với thời gian với tôi “Thầy cũ trường xưa” của thuở đầu đời là
cái “vuông lớp nhỏ êm đềm nằm một góc”. Vâng đúng vậy, êm đềm một góc sân
sau của trường với tàn cây thầu đâu bao quanh rợp mát, đó là phòng học lớp
năm (lớp 1 bây giờ) của tôi ngày đó. Dãy trước là 4 phòng và một góc sân
trường là phòng hiệu trưởng, sân trường không còn chỗ cho nắng, nhờ bóng
mát của 2 cây bàng và những cây keo ngoài hàng rào bảo vệ cho ngôi trường.
Một góc khuất bên trái sân còn có một giếng nước trong mát. Đó là Trường
tiểu học Mỹ Hiệp của tôi thời ABC đấy.
Lớp học đầu đời của tôi là đấy, người thầy của tôi là tà áo
dài trắng của cô giáo Lợn, tên của cô thật kỳ bạn nhỉ, cô hiền lắm thật
hiền và thật dịu dàng, tôi không biết năm đó cô bao nhiêu tuổi, chỉ biết
cô không già lắm, dáng nhỏ, đi dạy lúc nào cũng một màu trắng áo dài, cái
cảm giác sung sướng khi mỗi chiều nép mình bên cô trên đường đi học về tôi
vẫn không quên được, nó lâng lâng và ấm áp lạ thường khi được cô choàng
tay qua vai trên đường đi “Cô có ông chồng thật dữ mà sao cô hiền thế
không biết”, đó là lời những người lớn nói về cô. Bởi tôi và cô ở cùng
làng, nhà cô cuối xóm, nằm biệt lập trong một khu vườn dù rằng làng tôi
không phải là làng quê, một cây cầu gỗ bắc ngang trên mương sen trước khi
bước vào nhà càng tăng thêm vẻ nên thơ. Tôi mỗi chiều chủ nhật đều xuống
ngồi chơi trên cây cầu gỗ đó nhưng không dám vào nhà vì còn có một sân dài
cùng 3 con chó Berger cao hơn tôi ngày ấy làm hàng rào án ngữ. Eo ôi sợ
lắm. Có lần sơ ý đánh rơi chiếc guốc gỗ mẹ mới mua xuống cầu, lòng tiếc
ngẩn ngơ vì không biết làm cách nào để lấy lên được, hôm ấy tôi đã bị mẹ
cho một trận đòn nên thân (vì nhà tôi nghèo lắm).
À, tôi cũng tả thêm tí nữa để bạn hình dung tại sao nhà cô tôi
lại nói là nằm biệt lập.
Bạn biết con mương chỗ cống Huyện chứ. Không biết nó phát
nguyên từ đâu, chỉ biết đường từ Huyện thì nhìn thấy nó, chảy men từ cơ
quan hành chánh Huyện xuống tận xóm đồng để đem nước tưới mà chiếc cầu gỗ
bắc ngang làm ngăn cách mặt mương cũng là giới tuyến bao bọc 3 mặt. Một
bên là những lùm tre tiếp giáp đồng ruộng, một bên là ngôi biệt thự xinh
như mộng của ông bà thầy Hà, trước mặt là đường cái, còn nhà cô sâu tận
bên trong bốn bề cây cối ruộng đồng. Tôi có nên đưa ngôi biệt thự của ông
bà Thầy Hà vào bài viết của tôi không nhỉ, bởi nó thơ mộng lắm ông bà Bác
sĩ vang bóng một thời ở Quận tôi. Nhưng khi tôi lớn ông đã không còn,
thỉnh thoảng tôi thấy bà Thầy Hà đi ngang nhà, dáng đẫy đà quí phái trắng
hồng của một phu nhân gốc Huế. Biệt thự giống như vành đai phân giới giữa
xóm Mới là xóm tồn ở và xóm Đông phía dưới. Ngôi biệt thự dài và rộng lắm,
mặt tiền có 2 cổng hơi uốn theo hình chữ L theo chiều của con đường làng.
Một cổng phụ nằm mặt dưới bước vào là thấy nhà xe cổng chính bằng đá trụ
to, bước vào là sân Hòn Non Bộ tới gian nhà chính xây theo kiến trúc Pháp
tiếp theo những gian nhà sau phân chia ngăn ngủ hợp lý cho mọi sinh hoạt,
ôm theo vách dãy nhà là hàng bưởi ngọt hiếm có, cùng với một chiều dài sân
đá cuội rào rạo bước chân. Nên thơ hơn là những cây khế nằm xõa mình rạp
trên mương sen tiếp giáp bờ nhà cô Lợn.
Tôi lớn lên chỉ là lớp người ngang với con cháu ông bà Thầy
Hà, thỉnh thoảng có dịp đến chơi nhìn cảnh tôi lại liên tưởng tới hai câu
thơ của bà Huyện Thanh Quan trong “Thăng Long Thành Hoài Cổ”.
“Lối xưa xa ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
Lòng tôi cứ đau đáu nỗi niềm một thời vang bóng của ngôi biệt
thự với cái hồn của ông bà Thầy Hà lúc sinh thời … Một thời gian sân đá
cuội đã cùng thiên nhiên và khung cảnh thích hợp cho việc mở quán Cafe
giải khát lý tưởng góp phần kinh tế gia đình cho lớp con cháu.
Khi đang học lớp 9, một tin bất ngờ làm mọi người sửng sốt,
nhà cô Lợn là căn cứ “cách mạng”, vì sơ ý thế nào người con gái liên lạc
để rơi tài liệu, lính gác nhặt được ( những ngày ấy lính gác thường xuyên
canh ngang đường trước mặt nhà cô). Còn nhớ khoảng 5 giờ chiều ngày hôm
ấy, một tiếng lựu đạn nổ ầm làm rung động cả làng tôi. Người con gái lớn
của cô - cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Oanh đã lấy thân mình làm vật hy sinh để
cứu căn hầm, một chiến sĩ “cách mạng” hy sinh cộng thêm một cảnh sát quốc
gia cũng bỏ mình theo cô. Gia đình từ đó ly tán, và cô bị bắt ở tù, cây
cầu gỗ theo thời gian chỉ còn là những mảnh ván hư hỏng chấp nối, nhà cửa
quạnh quẽ, cỏ mọc bốn bề, mương sen lâu ngày đã thay thành hoa lục bình
cùng rau muống. Sau biến cố Mùa xuân 1975 cô được trở về và cô đã chết
trong những ngày tôi ở xa quê.
Bạn ạ, bây giờ làng tôi mang tên Nguyễn Thị Ngọc Oanh, quê tôi
đổi mới nhiều lắm, một đại lộ 40m chạy qua trước nhà cô, mương sen, cây
cầu gỗ, ngôi biệt thự của ông bà thầy Hà cũng bị biến mất còn ngôi trường
với vuông lớp nhỏ của tôi một thời gian đã thay tên thành Trường mẫu giáo
Hoa Sữa tiếp tục nuôi dưỡng những thế hệ măng non trong đó có con tôi và
khi tôi viết bài này. Đồng thời cũng là lúc ngôi trường cũng chỉ còn chờ
thay da đổi thịt, thay tên đổi họ, bởi một Trường mẫu giáo Hoa Sữa to lớn
hoành tráng đã được mọc lên ở đường lên Phong Ấp thuộc xã Ninh Bình rồi.
Thỉnh thoảng đi ngang, lòng tôi không tránh khỏi chút xao
xuyến, không biết có ai còn nhớ tới ngôi trường này không.
Bước lên những năm lớp bốn - ba - nhì - nhất tôi còn nhớ những
người thầy cô dạy tôi là Thầy Tịch, cô Trúc, cô Buôn, nhưng sao tôi lại
không còn chút ấn tượng nào mạnh cả. Tôi không biết sao ngày ấy tôi hiền
thế không biết, đi học những năm cấp 1 tôi chuyên môn lãnh phần thưởng
hạnh kiểm, còn thi thì 2 lần thi vào Trần Bình Trọng đều rớt, nghe lời mọi
người, mẹ cho tôi học lại một năm tiếp liên Trường Đức Trí (cho cứng). Một
năm tiếp liên với thầy Phiệc và thầy Hiệu trưởng Ngô Văn Cử giảng dạy,
nhưng tôi cũng chỉ ấn tượng với thầy Cử là nhiều. Toán - Văn thầy dạy đều
hấp dẫn chương trình rộng, cách dạy thật ấn tượng, thêm tích cách thưởng -
phạt cũng rất khó quên, một năm tiếp liên với những kỷ niệm ăn bánh tráng
ỉu tại lò, chơi chắt múa, lò cò, nhảy dây và trò luôn luôn là kẻ bị thua
nhiều nhất. Những buổi tan học thì không đi đường chính về nhà mà lại đi
ngược ngõ đồng để tung tăng đùa giỡn.

Nếu ký ức của tuổi thơ không phai nhòa thì dấu ấn về những năm
tháng tiếp theo của tuổi học trò cũng không ít. Chiếc áo dài trắng khoác
lên mình mới ngượng nghịu làm sao. Sau hai lần thi trượt vào trường công
mẹ không buồn khi 4 năm liền tôi đều mang về 4 phần thưởng đỏ chót của
Trường Trung học Bán Công chưa kể tôi còn được hưởng học bổng của Quân đội
Đại Hàn (mà mỗi trường chỉ có 2 học sinh) dành cho những học sinh nghèo
hiếu học như tôi.
Bốn năm mài đủng quần
ở Trường Trung học Bán Công cùng với sự dìu dắt của thầy Hiệu trưởng Bửu
Hỹ mà không học sinh nào không nể phục trước cái uy nghi, tác phong dịu
dàng ẩn trong giọng Huế nhẹ nhàng của thầy. Cùng công tác đi đưa nhà
trường vươn lên trong mọi lãnh vực Văn - Thể- Mỹ là những thầy cô giáo
nồng cốt vừa là đội ngũ giáo viên sôi nổi nhiệt tình đầy tâm huyết như
thầy Hiến, thầy Độc, thầy Sơn, cô Chiêu, cô Vân…
Ngoài ra, còn có những giáo sư của Trường Trần Bình Trọng cũng
được mời qua giảng dạy, nhờ vậy mà tôi được hấp thụ kiến thức cũng như
lòng kính trọng, nể phục người thầy dạy văn lớp 9, đó là thầy Cao Đình
Đãi, thầy cũng nhỏ người, tầm tầm với cô giáo lớp 1 của tôi ngày xưa,
người gốc Diên Khánh - Nha Trang. Giọng nói hiền hòa nhẹ nhàng, gương mặt
thon, da trắng, sống mũi thẳng, miệng nhỏ mà hai con mắt đen to biểu lộ
một tấm lòng đôn hậu tình cảm. Lớp 9 là những bài văn bình giảng về Kiều,
về những nhà nho xưa, là những bài văn nghị luận. Khi thầy giảng tôi nghe
thật say sưa vừa ghi chú quanh bài thơ bằng bút chì, sự lột tả của thầy mở
ra cho tôi thấy một biển rộng kiến thức văn chương chỉ gói gọn trong một
từ, một câu,…
Tôi lắng nghe mà lòng chỉ biết thán phục. Thầy giảng sao mà
hay quá có lẽ nhờ vậy mà trí tôi được mở ra và bài làm của tôi luôn chiếm
điểm số cao của lớp. Năm ấy thầy có ý định sẽ viết sách, nên muốn tập
trung bài giảng khỏi bị rơi rớt, thầy xin mỗi lớp một quyển vở học của
thầy vào dịp cuối năm. Thầy xin tôi, tôi tiếc những bài giảng của thầy sẽ
bị mất nên chép lại một quyển vở khác đưa cho thầy, nét cảm động thân
thương truyền qua cái tát nhẹ lên quyển vở vào mặt tôi mà không nói một
lời, chỉ cười hiền hòa với học trò. Khi tôi viết bài này thì thầy đã ra
người thiên cổ, và thầy ơi, cái hoài bão của thầy đã bị sụp đổ kể từ biến
cố Mùa xuân 1975 và giờ đây cũng ngậm ngùi cùng với thầy dưới ba tấc đất
rồi phải không thầy. Cam Ranh - Ninh Hòa chỉ hơn 70km mà lại ngăn cản bước
chân nên mấy chục năm mà thầy trò không gặp dù rằng tin về cuộc sống của
thầy thì học trò ai cũng biết. “Tao chỉ thích một lần đi thăm thầy Đãi
thôi mày ạ”, tôi thường nói với bạn bè như vậy.
Rời khỏi tổ ấm 9B của Trung học Bán Công, tôi còn 2 tháng làm
quen với trường Trung học Đức Linh ở Ban B ngày ấy rồi mới thi đậu vào Ban
C của Trung học Ninh Hòa lúc này trường đã lại đổi tên nên những thầy ở
Trường Đức Linh tôi đều biết nhưng chưa có kỷ niệm nào sâu sắc để đời.
Ngôi trường của thời cấp III của tôi to lớn rộng rãi hơn Bán
Công nhiều vì trường bao gồm cả 2 cấp II và III, thầy cô nhiều, buồn vui
cũng nhiều, cái tuổi 17 bẽ gẫy sừng trâu cũng lắm kỷ niệm khó quên nhưng
thôi cứ cho nó vào ngăn ký ức. Chỉ biết bọn học sinh Bán Công chúng tôi
khi nhập chung với học sinh Trần Bình Trọng cũng có nhiều kỷ niệm và sau 3
năm đèn sách tình bạn càng thắm thiết, năm lớp 10 thầy Phạm Văn Trai từ
đất Huế về chủ nhiệm và dạy môn chính Anh văn cho chúng tôi, kỷ niệm của
thầy còn lại đến bây giờ là tấm hình gia đình 10C4 của chúng tôi gồm đủ
tất cả gương mặt, bây giờ lâu lâu tôi còn giở ra xem. Qua năm 11 chúng tôi
được thầy Lâm Đức Toản làm giáo sư hướng dẫn. Đây mới là người thầy có
nhiều ấn tượng cũng như nhiều kỷ niệm với chúng tôi, thầy giọng Bắc nhẹ
nhàng giảng bài (Pháp văn và công dân) nghe thật lôi cuốn, với kiến thức
rộng rãi và thầy có tài nói tếu không kém khiến các tiết học của thầy lúc
nào cũng toàn tiếng cười.
Những gì còn đọng lại cuối đời học sinh phổ thông của tôi là
năm 12 dưới sự dìu dắt của thầy Dương Anh Sơn, với môn Triết học là chính.
Bởi lòng nhiệt huyết của người mới ra trường thầy đã truyền thụ cho học
sinh bằng tất cả niềm say mê. Ngoài những giờ Triết học khô khan thầy còn
tiêm cho chúng tôi những triết lý sống ở đời, những triết lý về chân -
thiện - mỹ, những triết lý sống đẹp, sống có hồn, không cầu kỳ, không sân
si với thầy là “đi cho người ta nhớ, ở cho người ta thương”
hoặc “ tất cả sẽ đi qua, chỉ còn là kỷ niệm” Hoặc một câu mà suốt đời
chiêm nghiệm lúc nào tôi cũng thấy đúng “người ta không bao giờ tắm
hai lần trong một dòng sông” còn… còn nhiều nữa nhưng với
lứa tuổi ngày ấy chắc ít ai chịu và suy ngẫm. Đối với thầy tất cả đều là
Nhân - Duyên. Được đổi về Ninh Hòa là duyên - được dạy lớp chúng tôi là
duyên. Bởi vậy thầy thương lớp chúng tôi lắm (lớp con so mà). Bởi thế sau
một chặng đường 28 năm cách biệt, thầy trò chúng tôi mới được gặp lại, dù
thời gian có làm thay đổi diện mạo, nhưng khi nhắc đến cái tên thì thầy
không quên cái “riêng” của từng đứa, thầy nhắc mà tôi phải giật mình.
Hương Bình ngày ấy tóc dài thường ôm cặp trước ngực, lặng lẽ ra về mỗi giờ
tan học. Tuyết Hoa mơ màng nhìn về một chân trời xa xăm, Hồ thị Hoa liếng
thoáng đốp chát đám bạn trai theo chọc ghẹo, Tô Châu ốm khều khào ưa gục
gặc cái đầu, Lệ Hồng lại xưng con với thầy làm thầy phải ngạc nhiên… 28
năm thầy vẫn nâng niu gìn giữ cuốn Đặc San của lớp còn nguyên vẹn. Hôm nay
cầm nó trên tay tôi thật xúc động khi nhìn và đọc lại bài viết của mình và
bạn năm xưa, tựa hồ như có chiếc gương thần soi rọi quá khứ.

Thầy
Đãi nêu cảm tưởng sau 28 năm xa cách
Giã từ tuổi học trò, giã từ tuổi mộng mơ, mỗi người bị cuốn
vào dòng xoáy của cuộc sống, sợi dây ràng buộc tưởng đã không còn. Nhưng
cuộc sống có câu “trong tro còn lửa” nên một ngày thật đẹp
trời (theo tôi là thế) ngọn lửa đã bùng lên. Các bạn tôi ở Sài Gòn mà điển
hình là cặp vợ chồng Hoa - Phê đã làm một cuộc dong ruổi tìm về cội nguồn
và đã gặp lúc này thầy đang làm chủ một Đại lý thuốc Tây. Cuộc trùng phùng
diễn ra với biết bao vui mừng. Sau đó đã có một cuộc họp mặt ở Sài Gòn
(nhưng vì hoàn cảnh nên tôi không có mặt). Thế rồi những cánh thư, những
món quà tình nghĩa đã được gói ghém gởi đi vào những Ngày Nhà Giáo. Thế là
một sợi dây tình cảm giữa thầy trò, bạn bè Sài Gòn - Ninh Hòa cũng như ở
Mỹ. Từ đó đến nay đã được thắt chặt hơn, có những ngày vui diễn ra, có
những tiếng cười rộn rã cất lên, kỷ niệm lại có dịp được nhắc, sự già nua
hầu như cũng được quên đi trong phút chốc… Và rồi tiếng cười cũng có lúc
bị nấc lại khi chúng tôi phải thắp nén nhang tiễn hai người bạn giã từ về
cõi vĩnh hằng. Bạn Toan ở Ninh Thân bị ung thư, trước khi nhắm mắt bạn
cũng có được một thời gian ngắn ngủi nhận được sự an ủi của thầy trò, bạn
bè qua những lần thăm viếng cũng như điện thoại của thầy từ Sài Gòn được
bạn bè đưa tiễn vào phút cuối đời và với khoản tiền nho nhỏ (5.000.000đ)
để tăng thêm lòng thương mến ở bên kia cuộc sống. Bạn Lệ Hồng trái lại
“một cõi đi về” của bạn là sự lặng lẽ âm thầm không một cái vuốt mắt của
người thân … vì tai biến hay bạn đã tự chọn sẵn cho mình xác ở Sài Gòn mà
hồn tận Cam Ranh. Bù đắp lại thầy trò chúng tôi đã bằng tất cả tâm tình kẻ
ở hải ngoại, người trong nước gom góp một khoản tài chánh nho nhỏ
(20.000.000đ) dùng vào việc tôn tạo một nếp nhà mới cho những đứa con của
Hồng khang trang hơn, cho ấm lòng kẻ ở người đi (còn nhờ thêm sự đóng góp
của người thân trong gia đình Hồng) mọi sự nhờ thầy Đãi đứng ra lo liệu.
Rồi cái ngày mừng nhà mới đến, một điều kiện được đi Cam Ranh, đồng nghĩa
được thăm thầy Đãi, thời điểm thực hiện được ước mơ nung nấu trong lòng
bấy lâu nay, một sự bồn chồn nôn nao khi thấy Sơn tôi ấn định 30/04/2005
lên đường, thế là thỏa mãn lòng mày nhé Bình.

Sự nôn nao bồn chồn lo lắng nung nấu trong lòng bọn tôi suốt cả tháng trời kể cả thầy Sơn, thầy Đãi cũng vậy. Điện thoại các thầy cứ réo về nhà Lâu (vì đó là điểm tập kết). Rồi cái ngày mừng vui đó cũng đến, sự nôn nao được nhường chỗ cho tiếng nói cười vang dội suốt cả chặng đường hơn 70km…và rồi bóng thầy kia - thầy đứng đón chúng tôi như đã hẹn, vẫn dáng dấp nhỏ nhắn, cầm chiếc mũ vải rộng vành thầy huê tay làm hiệu, miệng cười từ xa thật tươi. Cảm giác đầu tiên của tôi là sao không thấy nét già nua trên gương mặt thầy. Lạ nhỉ 30 năm, năm nay thầy đã 69 tuổi rồi mà, tôi cũng mừng thầm trong lòng, tiến lại gần chúng tôi chào thầy và đố thầy “em là ai”. Nghiêng mặt thầy nhìn cho kỹ à. À! Nói thì thầy nhận ra ngay em, em cũng không khác mấy, sao có đứa nói tên mà thầy cũng không nhớ được lâu quá mà.


Đưa đoàn thầy trò chúng tôi vào nhà, nhà thầy thật đơn sơ và
giản dị như con người của thầy (sau thầy còn bảo đó chính là nhà của cơ
quan Quân Đội cho mượn), câu đầu tiên của thầy nói tôi còn nhớ mãi:
- “Một lần điện về Ninh Hòa là tao mất ngủ 3 - 4 ngày - nhớ
quá”
Thật vậy hả thầy, lòng thầy như vậy mà học trò nào có biết.
Tôi nói.
- Ngày xưa nhà gồm có 3 người, giờ cũng đủ 3 thành viên. Thầy
giới thiệu tiếp về vợ và con gái của thầy. Cô con gái của thầy thật xinh
đẹp với nụ cười thật là duyên dáng - vợ thầy cũng thế, người Huế dáng thật
dịu dàng với làn da trắng xinh như con gái nhìn sao nhẹ nhàng thanh thoát,
nhìn gia đình thầy tôi thấy ai cũng thoát tục làm sao.
Thầy dẫn đoàn chúng tôi tới nhà con Hồng vui sướng ngập tràn
trên ánh mắt của thầy chúng tôi - thắp nhang, chuyện trò ăn sáng cùng gia
đình trong không khí đông vui …
Giã từ ngôi nhà bạn, chúng tôi lên xe về ăn cơm trưa ở Ngọc
Sương, thầy trò chúng tôi nói chuyện Đông, chuyện Tây, còn tâm sự chưa vơi
mà đã tới lúc vẫy tay giã từ thầy để tiếp tục cuộc hành trình ngược về
Ninh Hòa. Tôi không quên vẫy tay và nói:
“Thầy ơi! Đừng mất ngủ nghen thầy”. Tạm biệt Cam Ranh. Thầy
trò chúng tôi ghé quán Bốn Mùa ở bờ biển Nha Trang uống cafe và hưởng
không khí Nha Trang. Sống Sài Gòn nhiều ra Nha Trang thấy thích lắm. Tôi
ngồi đối diện Thầy Sơn và thầy Phách, cũng người Huế bằng tuổi thầy Đãi
nhưng lại nhìn thấy nét già nua trên gương mặt. Chắc tại thầy tạng xương,
cao, đô, khuôn mặt dài hơi hóp má, sống mũi cao như Tây, miệng rộng và
thật có duyên, cũng cặp mắt to đen, hiền hậu. Chuyên môn của thầy là dạy
sử thế giới và dạy hay tuyệt vời không chỗ chê.
Thấy thầy ốm mà có vẻ khỏe khoắn, tôi nói: “Em thấy thầy ốm mà
khỏe phải không thầy”. Thầy sống tuân theo 4 quy tắc: “Qui dục, nghi thực,
hoạt hầu, tâm đồng”. (Qui đây là rùa nghe em chứ không phải qui nạp đâu,
có nghĩa là phải tiết dục, ăn như kiến, hoạt động như khỉ và tâm phải như
trẻ thơ).
Tôi nghe mà cảm nhận như một bài học sống, lúc này đây chúng
em vẫn là những đứa học trò vẫn tiếp tục học ở các thầy những điều hay,
điều tốt.
Chia tay học trò, các thầy lại về với tổ ấm các thầy, nghe
Tuyết Hoa ở Sài Gòn điện về nói thầy Sơn mình vui lắm, nét hớn hở tràn trề
trên gương mặt.
Nhưng … đời là vạn ngày sầu, hai tháng sau một tin dữ làm tôi
phải choáng váng Diệp Thế Lâu báo tin tôi vào một buổi sáng: Thầy Đãi bị
ung thư máu, nằm ở Sài Gòn và sắp chuyển về - tụi mình sửa soạn để đi thăm
thầy. Đất trời như ngừng lại, tim tôi như thắt “Thật sao mày”. “Trời ơi”,
sao không phải là ai khác, sao không phải là một bệnh khác.
Chuyến xe đưa thầy từ Sài Gòn về, trong đó có Phê và các bạn
khác. Chúng tôi thăm thầy tại nhà từ đường, thầy ở Nha Trang. Những hình
ảnh này không bao giờ phai nhòa trong tôi.
Thầy nằm đó, đắp một khăn ngang bụng và chỉ một quần đùi mỏng,
chắc Thầy nóng trong người lắm, gương mặt Thầy đanh lại nghiêng ra nhìn.
Khi thấy chúng tôi bước vào chưa kịp tới gần Thầy đã phát tay đuổi chúng
tôi.
- Tụi …mày ..ay …về … đi ..
Giọng Thầy như uốn lưỡi, không nói nhanh như bình thường nhưng
sắc giọng lại cứng vô cùng.
Chúng tôi không nói vẫn chậm rãi từng đứa tiến lại. Thầy lại
tiếp tục đuổi.
- Tụi … mày ..ay …vêề … đi .. tau … không.. chết.. đâu …
Chúng tôi lẳng lặng bước ra ngoài. Lúc này chỉ có cô bên cạnh
săn sóc đút sữa cho Thầy.
Hồi lâu tôi rón rén bước lại gần.
- Thầy. Thầy nhớ em không ?
- Tau … không.. chết.. đâu … tau .. còn .. dề .. Ninh .. Hòa
.. nữa
Chúng tôi không dám làm gì. Chuyện trò với cô hồi lâu rồi ra
về.
Tuần lễ sau thầy đã được hóa thân thành tro đúng như lời bài
hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai
tôi trở về cát bụi ....”
Vĩnh viễn và chắc chắn tôi không còn thầy, một phút bi quan
tôi thầm nghĩ:
Thật bất công và cũng thật vô nghĩa. Hạnh phúc cho những ai đã
từng có một thời làm học trò. Chúng ta hãy nâng niu quý trọng nó. Và các
bạn của tôi ơi! Dù bạn đang có một học vị cao, hoặc đang thành danh ở lãnh
vực nào thì bạn cũng nên nhớ rằng chúng ta cũng chỉ là học trò của các
thầy thôi. “Tôn sư trọng đạo” mới nên người.
No comments:
Post a Comment