1.
Mùa Hè, những cơn mưa bất chợt ùn ùn kéo đến, ào ạt
chụp xuống núi rừng Kontum, Pleiku... Trời thoắt trở lại xanh, cao khi
mưa dứt, nắng hanh vàng ấm trong không khí gây gây lạnh, những đồi cỏ
xanh dọc Quốc Lộ 14 bắt đầu óng mượt, cánh cỏ non lớn dài phơi phới dưới
sau trận mưa đầu mùa và thung lũng xa vàng rực hoa hướng dương. Không
khí, gió, trời mây và cỏ cây thay đổi hẳn, mới mẻ toàn khối, toàn sắc,
vùng cao nguyên lộng lẫy, triền miên với từng hạt nắng vàng ối tan vỡ
trên đồng cỏ xôn xao gió thổi...
Mùa Hè, gió Lào miền Quảng Trị, Thừa Thiên thổi từng luồng,
từng chập, đưa “con trốt” chạy lừng lững trên cánh đồng cát chói chang,
những đồi hoa sim, hoa dủ dẻ rung rinh bốc khói dưới mặt trời hạ chí.
Giòng nước sông Hương, sông Đào, sông Bồ, Mỹ Chánh, Thạch Hãn đục hơn,
thẫm màu hơn, lăn tăn từng sợi sóng nhỏ len lỏi khó khăn qua kẽ đá, bãi
cát, chầm chậm chảy về phía Tam Giang, cuốn trôi theo đám lá tre già khô
úa.
Mùa Hè, những con đường thành nội Huế lốm đốm ánh trăng xuyên
qua cành lá, cô gái chuyển tấm lưng sau lớp tóc dài dày kín, nâng khối
tóc xôn xao lên khỏi chiếc gáy để cơn gió ngắn len qua hàng rào chè xanh
thổi khô đi lớp mồ hôi rịn trên những lông tơ nõn.
Mùa Hè, mưa rào tăm tắp đổ xuống kín trời An Lộc, chập chùng ẩn
hiện những thân cây cao su nhoà vào nền trời xám tối, khu rừng biến
thành khối đêm đen trong khoảng khắc, khối đen chuyển dịch, vẫy vùng ào
ạt theo từng cơn lốc gió... Mưa tan, trời tạnh, ánh trăng lạnh nhô lên
từ phương tây, cuối bình nguyên lồng lộng, núi Bà Đen ấn một nét đen
thẫm thần bí trên nền trời xanh ánh trăng. Và đàn nai bắt đầu tung tăng
từ đầu nguồn, cuối lạch... Đàn nai chạy vun vút qua rừng cây, trên đồng
cỏ mượt sóng, chạy và ngừng lại, “bép” mấy tiếng âm u cùng ánh trăng
chập chờn trên sóng cỏ.
Mùa Hè, mùa đẹp đẻ, tươi gắt căng sức sống, ngày ngày nỗ lực
trên mặt nước loáng ánh nắng hay đồng lúa nặng hạt. Hạt ngọc của trời,
và người dân cất cao tiếng hò...
Được mùa chớ phụ môn khoai,
Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng...
Tiếng hò chạy dài trên lúa, theo cơn gió đưa ra đến đầu ghềnh,
cuối cửa sông, tan biến vào cùng sóng nhỏ... Trên mặt nước, con đò xuôi
về Thế Chí, Đại Lộc dọc Phá Tam Giang 1,
lại vang dội một giọng hò khác phảng phất nét tàn tạ bi thảm của hơi
Nam Ai thê thiết... Hò... ơ... ai...về...ạ... ạ... Đại...Lộc...ạ... ạ...
ai vượt... ạ..ơ..Kế Môn...
Đã từ lâu...Lâu lắm, người dân của ba miền đã qua những mùa hè
trong cạn đáy khắc khoải để hy vọng tiếp tục đời sống với mơ ước chỉ đầy
chén cơm. Nhưng mùa Hè năm nay, 1972 tất cả hy vọng và mơ ước nhỏ nhoi
tội nghiệp kia tan vỡ trong tận cùng kinh ngạc. Bao năm qua, chiến tranh
đã quá nặng độ, chiến tranh quá dài, dài thê thảm, dài đau đớn tràn
ngập. Người dân Việt mong mỏi đi qua thêm một mùa, một năm, chiến tranh
lắng dịu và được sống sót. Nhưng, 30 tháng 3 ở Đông Hà, 24 tháng 4 ở Tân
Cảnh, 7 tháng 4 ở An Lộc, 1 tháng 5 cho Huế và Quảng Trị... Hoài Ân,
Tam Quan, Bồng Sơn, Bình Giả, Đất Đỏ... Toàn thể những địa danh nơi hốc
núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy
hừng hực, cháy cực độ...Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba
miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc
gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt. Lửa ngùn ngụt. Lửa bừng
bừng. Lửa kêu tiếng lớn đại pháo. Lửa lép bép nức nở thịt da người nung
chín. Lửa kéo dài qua đêm. Lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng. Lửa gào
chêm tiếng khóc của người. Lửa hốt hoảng khi cái chết chạm mặt. Lửa dậy
mùi thây ma. Lửa tử khí trùng trùng giăng kín quê hương thê thảm khốn
cùng.
Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân 2,
cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy.Mùa Hè năm 1972- Mùa Hè máu. Mùa
Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện. Mùa Hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc
ta sao nỡ quá đọa đày!
Ba sư đoàn bộ binh 304, 308, 324B, cùng sáu trung đoàn địa
phương của Khu 5, ba trung đoàn chiến xa, hai trung đoàn đặc công và một
sư đoàn pháo nặng 130 ly, cho mặt trận Trị-Thiên. Ba sư đoàn 5, 7, 9,
tăng cường sư đoàn Bình Long, hai trung đoàn 202 và 203 chiến xa, được
yểm trợ bởi một sư đoàn pháo nặng tại mặt trận An Lộc. Hai sư đoàn 320
(Thép) và Sao Vàng, một trung đoàn chiến xa tấn công vào Tân Cảnh,
Kontum; hướng tiến được dọn đường bởi một trung đoàn pháo đặt từ rặng
Big Mama Mountain, vùng Ba biên giới Việt-Miên-Lào. Cộng quân chơi trò
chơi máu, mở đầu những “ngày hè đỏ lửa”, trận cuối cùng để tìm kiếm kết
thúc cho mười năm chiến tranh “giải phóng” cạn lực, sau “tổng-công-kích
thất bại Mậu Thân 1968”.
Quân ta phải chống lại.Chống giữ để tự vệ. Chống trả nơi biên
giới cuối cùng: Tự Do hay Nô Lệ. Sống hoặc Chết. Trận đấu quyết tử và
trận chiến cực điểm. Ba tháng hay 100 ngày chiến trận, những kỷ lục
chiến trường thay đổi từng nấc, từng bậc lớn, từ 2,000 quả đạn cho cứ
điểm Charlie, Kontum đến 8,000 quả cho An Lộc.Bắc quân đi bước tàn nhẫn
không nương tay và quân dân Miền Nam đồng đương cựvới nổ lực cao nhất
tại “Điểm đứt hơi - Điểm vỡ của chiến trận”. Chúng ta đã chiến đấu giữ
vững và kiêu hùng chiến thắng.
Hôm nay, ngày đầu tháng 8, cuộc đại chiến đã bước qua tháng thứ
tư, và có cơ kéo dài thêm một thời gian nữa, nhưng quân dân ta cắn
răng, ngậm chặt, hứng hết tai họa, đựng đầy khổ nạn... Chịu thêm nữa
cũng thế, đánh thêm nữa cũng được. Trong nguy nan, Dân tộc biến thành
“Thánh chịu nạn”. Dân tộc kiêu dũng, quật cường, vượt qua, bất chấp tất
cả để tồn tại. Ngọn lửa Mùa Hè 1972 nung độ nóng cao nhất trui rèn chúng
ta - Người Việt Nam muốn sống đời đáng sống của Người - Người Tự Do.
Được đi, chứng kiến và dự phần vào ba mặt trận, ba vùng đất quê
hương, người viết không mong gì hơn ghi lại một vài khía cạnh của cuộc
chiến - Cuộc chiến vĩ đại vượt mọi chiến tranh - Mà phải một ủy ban quân
sử, trong thời gian dài mới có khả năng, điều kiện thâu tập và đúc kết
toàn thể. Vì chỉ ghi được biến cố qua một vài khía cạnh, với những
người, đơn vị lâm chiến quen thuộc; người viết xin tạ lỗi do những thiếu
sót mà một cá nhân không thể nào tránh khỏi, và đã phải viết lại từ một
khoảng ngày tháng quá gấp rút.
Viết lại,
Ngày Quân LựcVNCH,
Tháng 6, 1998.
Mùa Hè, Đất Mỹ.
° ° °
CHARLIE,
Tên nghe quá lạ
Quả tình nếu không có trận chiến mùa Hè 1972, thì cũng chẳng ai
biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm
trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie, “Cải Cách”
hay “C,” đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông
Pô-kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim
bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên. Charlie bị
bao vây bởi Căn Cứ 5, Căn Cứ 6 ở phía bắc, những mục tiêu quân sự nổi
tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngõ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm
qua, bao nhiêu mùa hè, mùa mưa rào, báo chí hằng ngày trong và ngoài
nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống vùng núi non,
cạnh sườn cực tây địa giới nước Nam.
Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa 1971 qua đầu
xuân 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua được cửa ngõ hai căn cứ số 5, số
6, thế nên cộng quân đổi hướng tiến, lòn sâu xuống phía nam hai căn cứ
trên để tiếp tục sự nghiệp “giải phóng” với mục tiêu cố định: Tân Cảnh,
cắt Đường 14.
Vòng đai Lữ Đoàn II Nhẩy Dù nằm về phía trái quốc lộ có hình
cánh cung bắt đầu bởi căn cứ Anh Dũng ở cực bắc đến Yankee hay Yên Thế,
ngã lần xuống nam với Charlie, Delta, Hotel, Metro và chót hết là Bắc
Ninh, phía đông Võ Định, nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn. Vòng đai này có
nhiệm vụ che chở phía trái đường 14, phát hiện sự di chuyển từ đông sang
tây của địch xong dùng phi pháo để tiêu diệt. Đây là lý thuyết chiến
thuật,quan niệm hành quân của phía cộng hoà đối với mục tiêu và hướng
tiến của phía cộng sản hằng bao nhiêu năm. Nay địch thay đổi đường đi và
quân ta lập vòng đai nhẩy dù... Yankee, Charlie, Delta bắt đầu được đặt
tên để tiếp nhận định mệnh tàn khốc trong cuộc chiến trùng trùng. Đoạn
sau kể về trận đánh ở Charlie, trận đánh nhỏ của một tiểu đoàn nhẩy dù,
nhưng điển hình cho toàn thể bi hùng cực độ về người Lính Chiến Việt
Nam.
Đến đây,
Người gặp Người
Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào khi chạy đến vùng Ba Biên
Giới phía đông cao nguyên Boloven chia ra hai nhánh; nhánh thứ nhất từ
Chavane đâm thẳng biên giới Lào-Việt xuyên qua dãy Chu Mon Ray để nhắm
vào Darkto; nhánh thứ hai từ Bản Tasseng qua trại Lệ Khánh, và Kontum là
mục tiêu cuối cùng của quan niệm chiến thuật Bắc quân: Phải chiếm giữ
thị trấn cực bắc nầy để làm bàn đạp lần tấn công Pleiku, rồi từ đây tiến
về phiùa đông, xuống bình nguyên tỉnh Bình Định. Gọi nhánh thứ nhất là
nhánh Bắc và nhánh thứ nhì là nhánh Nam. Trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của
Mặt Trận B3 (chiến trường Tây Nguyên), đường rẽ phía Bắc được sử dụng,
từ đỉnh 1773 của núi Chu Mon Ray, con đường không thể gọi là một nhánh
nhỏ của “đường mòn Hồ Chí Minh” nữa, nhưng phải gọi đó là một “Bypass”
của một cải lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằng ngoèo qua các cao
độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dãy Big Mama Mountain rồi bò
theo hướng đông đến đỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con
đường phải quẹo qua trái, đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại. Dừng lại,
vì phía đông, hướng trước mặt chỉ cách mười cây số, con sông Pô-Kơ dậy
sóng... Con sông ầm đổ qua ghè đá, ào ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên
kia sông, Quốc Lộ 14 chỉ khoảng trên dưới sáu cây số và đầu con đường là
Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch.Từ ngày chiến tranh “giải phóng”
bùng nổ.
Đây rồi, “...nồi cơm điện National” đây!! Tân Cảnh hấp dẫn ngon
lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới thung lũng bát ngát ở
đằng kia. Bộ đội ta tiến lên! Nhưng không được nữa, con đường đã bị
dừng lại, và bộ đội ta dù được “tùng thiết”, dù được đại pháo “dọn
đường” cũng phải dừng lại, vì đỉnh 960 chính là bãi đáp C, là cứ điểm
Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù đã xuống LZ này từ ngày 2-4. Con cháu
Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa.Nỗ lực kinh khiếp kéo dài
trên năm mươi cây số đường núi, từ ngả rẽ đất Lào phải dừng lại vì chạm
phải “sức người”.Ở đây - Người đã gặp nhau.
Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con người cuồng tín
và tội nghiệp của miền Bắc đã làm được tất cả. Con đường núi của Tướng
Stiwelle từ Miến Điện đến Trùng Khánh, Trung Quốc năm 1945 đã là một sự
khủng khiếp - Đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu
lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc
và giá trị của nó - Cả nước Tầu sống bám vào cái ống cứu nguy thậm thượt
hun hút này. Vào thời điểm đầu thế chiến, nước Tầu, đồng minh “tuyệt
vời cần thiết” của người Mỹ dễ thương cần phải sống để chống đỡ trục Bá
Linh - Đông Kinh. Con đường quả đáng tiền và đáng sợ. Nhưng đường này
làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các “Ong Biển” hảo hạng,
những người lính công binh chiến đấu hãnh diện của Mỹ Quốc giàu sang
hùng mạnh. Năm mươi cây số đường xuyên sơn của “bộ đội ta” thì khác hẳn.
Bộ đội đào bằng tay trong đêm tối. Bộ đội lấp hố dưới tấm lưới lửa thép
của B52, trên những giải thảm tử thần dầy lềnh bom bi CBU. Sức người và
lòng cuồng tín ghê gớm đã vượt qua giới hạn. Đấy không còn là người với
thịt da biết mệt mỏi đau đớn, cũng không là người với trí óc biết nguy
biến và sợ hãi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp chìm đắm trong ảo
tưởng và gian nguy triền miên. Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân
thời được hoàn thành từng phân từng thước... Bắc quân theo đó đi về
Đông.
Nhưng đến đây, ở cao độ 960, người lính Bắc Việt không tiến
được nữa vì đã gặp “người”- Người rất bình thường và giản dị. Người biết
lo âu, sợ nguy biến. Người có ước mơ và ham muốn vụn vặt. Những người
không thần thánh hóa lãnh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn tâm
tình. Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc “tới” nhất của Quân
Lực Miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận
địa. Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ý định của
đối phương. Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan
vỡ- Họ gặp lính Nhẩy Dù Việt Nam.
Trận đánh trên cao điểm
Anh Năm (Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng 11 Dù) bố
trí quân “hết sẩy”. Cứ điểm C hay Charlie chính thống, cao độ 960 giao
cho “thằng 1”, đại đội 1 do Thinh, trung uý khoá 25 Thủ Đức chỉ huy.
Thinh trẻ tuổi đời lẫn tuổi lính. Thinh có vẻ yếu trước mắt mọi người vì
Thinh...đẹp trai! Đã đẹp trai, tốt mã thì đánh giặc hơi yếu. Chẳng hiểu
sao phần đông là như thế?! Những anh có vẻ tài tử, ăn nói ngon lành,
rỗn rãng thường hay lạnh cẳng... Nhưng nghĩ cho kỹ thì cũngcông bằng
thôi, con người mà, được cái nầy thì mất cái kia. Nhưng anh Năm dưới cái
nhìn sắc sảo của con ó, kèm theo “suy tư “ của phó Mễ đã chọn Thinh để
giữ Charlie vì cả hai người chỉ huy đều chắc một điều: Đây là một tay
“dur”, loại liều, thứ “kép trẻ đang lên” của trận địa. Thinh được lãnh
hãnh diện “Nhất kiếm trấn ãi” và những ngày sau Thinh đã chứng tỏ, người
chỉ huy mình đã không nhầm lẫn. Phía bắc của C giao cho đại đội 3, do
Hùng “mập” làm đại đội trưởng. Hùng chỉ là đại uý thôi, nhưng “người” có
đủ tác phong và khả năng để “tiến” xa hơn. Vì “người” cũng là tay văn
nghệ, “lãnh tụ” sinh viên, có kích thước cơ thể và tính chất của tướng
Thắng, ông “tướng sạch nhất “ của quân đội và cũng là ông tướng học giỏi
nhất!! Nhưng giờ nầy Hùng chỉ là “simple captain” nên cam phận dẫn quân
lên trấn giữa phía bắc Charlie, căng mìn bẩy, đào hầm chờ con cháu Bác,
những chiến sĩ Điện Biên... Điện Biên cái con bà nhà nó, lúc xưa bố nó
đánh Điện Biên chứ đâu phải nó hôm nay, trong họ tôi có ông chú làm tiểu
đoàn trưởng đánh cái Điện Biên khỉ gió kia... Bây giờ tụi nó là cái chó
gì..Chẳng nhẻ tôi là lính Tây cà-lồ sao?!! . Phần còn lại tiểu đoàn lên
cao điểm 1020 hay C2. Anh Năm bảo Mễ:
- Mình giữ hột lạc (cao độ bản đồ thường tượng hình hột lạc)
này vì phiá nam tao chắc toàn tụi nó, lệnh hành quân bắt buộc mình phải
giữ cửa thằng Charlie. Kẹt lắm, trước sau gì tụi nó cũng phải chiếm
thằng Charlie nầy, và mình thì chỉ việc “thủ”?! Bố khỉ, thôi đã xuống
đây thì phải giữ chứ biết làm sao, hôm đi họp hành quân được nhận tin
tình báo từ quân đoàn, sư đoàn 320 (Sư đoàn Điện Biên cộng sản) đã rút
về tây, vào đất Lào!!
- Anh Năm yên chí, mình “hơn tiền “ tụi nó!! Mễ chắc giọng.
Nhưng thật ra tất cả chỉ là những câu nói bề mặt, phần trong,
đằng sau lý luận và phân tích, do những kinh nghiệm và nhạy cảm riêng về
chiến trường, mọi người đều có chung ý nghĩ: Xong rồi, mình đã lọt
bẫy!! Bởi, chiến tranh miền núi là chiến trường giữa những cao điểm;
đành rằng C và C2 cũng là những cao độ, nhưng 960 và 1020 làm sao chế
ngự được những đỉnh 1773, 1274, 1512 của rặng Big Mama Mountain và tiếp
theo một dãy đường đỉnh nam rặng Chu To Sang... Và pháo binh của tụi nó.
Pháo và kèm theo một “rừng cối”, gồm một hệ thốngsúng cối có đường kính
từ 80 ly trở lên hoặc sơn pháo bắn thẳng... Sự thông minh và tinh tế về
chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không
dám nghĩ thêm. Phần lệnh hành quân đã giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi
để sửa soạn vinh quang cùng cái chết. Họ chỉ có một đỉnh Charlie đang
hừng hực bốc hơi dưới nắng hè hạ chí trời Tây Nguyên. Định mệnh, sức
mạnh khắc nghiệt khốn kiếp đã bắt phải như thế. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù
không còn khả năng chọn lựa. Như cuối cùng cái chết thế nào rồi cũng
phải tới cho dù người lính hằng chiến đấu quyết liệt bao nhiêu.
Ngày 6, cứ điểm Delta ở phía Nam bị đánh. Đúng chiến thuật,
lính ông Giáp tưới xuống một trận mưa pháo, cối và hoả tiễn. Đêm thật
dài, người ở Charlie chờ đợi và theo dõi...Tiên sư, tụi thằng Mạnh (Tiểu
đoàn 2 Dù giữ Delta) bị rồi.. Xem thử tụi nó đánh đấm ra sao? Bộ chỉ
huy tiều đoàn 11 Dù chong mắt vào loa khuếch đại máy truyền tin để nghe
kết quả... Trời sáng dần, Delta lấy lại được, quân ta thắng. Anh Năm
nhìn Mễ:
- Mầy thấy đấy, chúng sẽ chơi với mình cũng với cách nầy, chúng
sẽ lấy kinh nghiệm ở Delta để “dứt điểm” mình. Toàn thể bộ chỉ huy im
lặng. Mọi người đều có ý nghĩ chung. Bao giờ đến lượt mình? Baogiờ?
Nhưng anh Năm không thụ động, con hổ dù bị nhốt trong chuồng
vẫn còn nguyên phong độ, uy lực riêng. Không cần phải luận lý lâu lắc.
Đây, quyết định của anh:
- Mễ, mầy đem hai thằng 2 và 4 (Đại đội 2 và 4) lên chiếm cho
tao cái nầy. Anh chỉ vào một cao điểm ở nam C2. Nếu chiếm được mình sẽ
cho một thằng lên giữ nó, mình đã bị phân tán mỏng thì cho mỏng luôn,
càng mỏng càng tốt, tránh được pháo, đỡ bị tụi nó vây... Mầy nghe chưa?
Mễ gật đầu, anh năm thấy, nó cũng chung ý nghĩ. Đã vào bẩy thì
tìm cách thoát ra, một đỉnh núi không thể là vị trí cố thủ. Tôi nghe anh
rõ. Mễ trả lời. Trời vừa sáng, Mễ quay bảo Hải, sĩ quan trưởng ban 3(
Ban hành quân),
- Ông cho hai thằng 2, 4 chuẩn bị, mình đi làm ăn. Không thể ngồi đợi tụi nó tới đây rúc rỉa, cấu xé được...
Ba đợt xung phong không thành, Bắc quân quả không dại dột bỏ vị
trí rất nhiều ưu điểm; cũng bởi sườn quá dốc, quân ta dù can trường,
dùng tay lẫn chân cũng không thể nào “chạy” qua được hàng lưới lửa của
12ly7 (đại liên phòng không hoặc chống chiến xa) hoặc sơn pháo 75 ly bắn
thẳng!!
- Cho thằng Mễ lui! Anh Năm bảo Hải. Trán cau lại, anh nhìn
xuống đất, gỡ kính, chớp mắt, nói nhỏ sau tiếng chặc lưỡi : Mình bị một
con dao đâm lút cán vào lưng!!
Những ngày sau tương đối bình yên, hằng ngày các đại đội tung
các đứa con ra xa lục soát, chỉ trừ đườngvề phía nam, nơi tụi “khốn nạn”
đang chui trong núi. Làm sao”móc” chúng ra được? Bom thả xuống hằng
ngày, nhưng chỉ là bom miểng... Mẹ...hầm tụi nó đào theo chữ U hoặc con
c... gì gì thì làm sao bom “lách“ vào được?! Anh Năm đi lại trên đỉnh
đồi nhìn bốn hướng trùng trùng và xa xa trong ánh nắng về phiá Tây, cuối
con đường trong vùng núi Lớn có lớp bụi mù...
...Xe chúng nó! Xe chúng nó! Tăng hay GMC của tụi nó...Bom!! Bom... Gọi lữ đoàn Hải,
- Để em gọi, nhưng Molotova chứ đâu phải GMC, anh Năm!
- Thì đấy là GMC của Nga, mầy biết mẹ gì!!
Đàn em thì bao giờ cũng ‘chẳng biết mẹ” gì. Anh Năm vốn hay phủ
đầu như vậy. Nhưng đấy chỉ là một cách nói, bởi anh rõ ưu điểm của từng
người như một máy ghi âm cực tốt. Máy bay ta ào tới, con đĩ “Lan 19”
lượn một vòng trên vùng chỉ định, cho “ra” một trái khói... Khu trục
nhào xuống tiếp theo, bom nổ dâng cột khói lên cao.
- Tiên sư, bom ném thì hay nhưng sợ tụi nó trốn rồi, nó lại không trốn luôn mà quay trở lui về phía mình thì bỏ mẹ...
Sau cơn bom, khói bay lên không trung, qua bóng nắng đằng xa thung lũng lại có lớp bụi mới bồi từng chập...
...Tăng! Tăng...tăng nữa, đông quá, tụi nó chưa bị... Tiên sư,
nó trốn ở đâu nhỉ? Trên đồi cao, anh Năm đứng im như con báo nhìn lũ sài
lang tiến tới hằng hằng lớp lớp. Làm gì được bây giờ... Không lẽ xin
thêm phi tuần khu trục?
Ngày 11, trận địa pháo bắt đầu. Pháo thật sự của 122 và 130 ly
ào ào trútxuống C1, C 2, C3...Không phải từng trái, nhưng từng chùm,
từng loạt... Một, hai, ba....Hải cố gắng đếm,
- Mầy làm gì thế, điên sao em?! Anh Năm vừa hỏi vừa cười,
- Mình gắng đếm để báo cáo cho chính xác!!
- Thế thì mầy phải đếm hàng chục một, một chục, hai chục... Tụi nó đâu “đi tiền” lẽ!!
- Tụi nó “chơi” tôi!Thinh ở Charlie báo cáo qua máy.
- Mầy giữ nỗi không? Anh Năm cướp ống liên hợp máy truyền tin trên tay Hải.
-Trình “ đích thân”, suya là tôi giữ được, xin cho pháo mình nổ gần tôi thêm chút nữa...
Pháo căn cứ hoả lực Võ Định (Nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn) bắn
tới tới trước, rơi xuống sườn phía đông Charlie... Đạn 105 và 155 nổ
từng trái một, khói bụi tung lên trông rõ.
... Mẹ, bắn gì “quí phái” vậy, nó tấn công chính diện ở phía tây, mầy xin pháo căn cứ 5 bắn xuống dễ ăn hơn!!
Hải bốc ba, bốn cái máy truyền tin một lúc, năm ngón tay chuyên
“xoa”, “nặn” di chuyển trên giàn ống liên hợp lẹ như chớp... Thằng nầy
gọi là “Hải khều” cũng phải, nó khều cái gì đúng cái đó!! Anh Năm phịa
câu khôi hài đúng lúc, Hảinheo mắt cười thích chí.
Pháo căn cứ 5, và hai căn cứ Sơn Tây, Mạnh Mẽ cùng ào xuống,
vây quanh Charlie vòng đai lửa. Đấy! Đấy...phải như thế mới được. Anh
Năm gật gù tán dương, đồng lúc tiếng Thinh vang vang qua loa khuyếch
đại,
- Trình đích thân cứ cho gà nó “đá” như thế, em đánh tụi nó de
ra như đuổi con nít... Tốt! tốt...cho gần hơn năm mươi thước nửa thì tốt
hơn, ngay trên tuyến em cũng được!!
Bốn mươi lăm phút sau, pháo im bặt, cả ta lẫn của địch. Anh Năm
lên hầm chong ống nhòm xem đại đội 1 bên đồi C lục soát chiến trường.
Súng và xác bộ đội cộng sản nằm lềnh kênh chật kín đồi đất đỏ.
- Nó đánh thằng 1 là để dợt chơi, cú dứt sẽ với mình,
- Trung tá, trên họ không tin nó pháo mình bằng 130 ly?! Hải báo cáo, giọng mỉa mai.
- Gì? Anh Năm chỉ gắt được một tiếng. Như thế là người đang nổi
cáu. Trường hợp nầy vốn rất ít, vì anh vốn trầm tỉnh, sự giận chỉ đến
sau chót, khi dã cuối cùng chịu đựng.
- “Họ” bảo mầy sao? Chữ “họ” được gằn xuống khinh thị!!
- “Họ” bảo mình kiếm mảnh 130 để gởi về!! Chữ “họ” thứ hai qua cách nói của Hảicũng đắng cay không kém.
- Đến đây mà kiếm, muốn thấy súng của chúng thì cũng đến đây,
tao như thế nầy không lẻ la hoảng, báo cáo láo sao?! Anh đá một hòn đất
bay tung... Mẹ, nó xài toàn đạn delay 3 mới thế nầy đây! Câu nói ngắn đau đớn của niềm phẫn nộ tuyệt vọng.
- Cho sửa sang hầm hố, ngày mai gì tụi nó cũng “chơi “ lại.
Trước khi bước đi, anh quay sang Hải, dặn thêm: Mầy trình với lữđoàn, để
nói với quân đoàn, đây là đạn 130 ly thật. 130 ly xuyên phá. Mầy bảo
tao nói thế.
Đêm xuống thật mau, đêm của núi rừng thẩm màu và đầy bóng tối
đe doạ. Sao trên cao lấp lánh, sương mù đùn lớp... Đêm như có hình khối
chuyển dịch. đêm chất chứa che dấu hàng ngàn sinh vật đang bò dần vào cứ
điểm. Đêm cũng vô cùng im lặng, nhưng nỗi im lặng kinh dị như khoảng
cách từ khi viên đạn ra khỏi nòng súng và sắp sửa “chui” xuống mái hầm,
hố phòng thủ. Trong bóng tối, mấy trăm con người trên ba cứ điểm dựng
đứng đôi mắt xuyên thủng qua bóng tối. Và chờ. Ngủ chỉ là khoảng cách
ngắn để đối mắt khép lại, đầu gục xuống, xong giật mình tỉnh giấc với
nỗi “lo lắng” như vừa qua cơn mê thiếp dài, và trong khoảng khắc “dài
thăm thẳm chóng vánh” nầy, hình như quân địch đã tiến sát gần hơn!! Tiểu
đoàn 11 Dù qua đêm trong chập chờn sắc buốt với cảm giác viên đạn vô
hình đang bay thẳng vào mặt. Có ráng hồng bên kia núi... Ngày đã tới.
Ánh sáng đẹp âm vang hân hoan, như ân huệ nồng nàn vừa được sống sót qua
thêm một đêm.
Ngày cuối của một người
Ngày 12 bắt đầu. Lính cong lưng xuống trên đất để đào thêm độ
sâu... Càng sâu càng tốt. Tỷ lệ được sống sót là độ sâu của lớp đất đá
vô tri nầy. Đất được đổ lên mái. Con người chui lọt vào giữa đất đá, tội
nghiệp và thụ động như con sâu ẩn mình trong tổ. Pháo sẽ đến lúc nào?
Nổ ở đâu? Câu hỏi âm thầm vang vang trong đầu hàng trăm con người. Trên
ba cứ điểm im lặng chỉ loáng thoáng bay những sợi khói mỏng manh. Khói
của cơn pháo cuối cùng chưa dứt độ nóngtrong đất. Chỉ tiếng cuốc đục đều
đều vào đất đá như hơi thở bị ngắt khoảng.
Trong hầm chỉ huy, anh Năm chỉ những điểm ước tính Bắc quân đặt súng,
- Chắc chắn chúng chôn súng ở đây... Anh chỉ ngón tay trên các
đỉnh Kngok Toim, Kngok Im Derong. Toàn là cao độ trên 1500 thước, ở đấy,
tụi nó thấy mình rõ như ở đây mình thấy thằng 1 dưới Charlie. Ngày hôm
qua nó bắn mình không trật một phát ra ngoài. Mầy xin mấy phi tuần để
sẵn, có gì mình dội xuống liền. Dội ngay trên tuyến mình cũng được.
Xong, ông Mễ và Bác sĩ Liệu về hầm đi, đừng tụ vào một chỗ.
Mễ và Liệu đứng dậy,
- Chào trung tá. Anh Năm gật đầu. Hình như anh gượng cười. Có
điều gì khó khăn sắp xẩy ra? Không ai biết, nhưng âm tiếng mọi người có
điều gì khang khác, buồn buồn... Tai ương nguy biến chực sẵn đâu đây đã
làm người hoá nên tê liệt, rã rời. Cũng thật do chờ đợi quá căng thẳng
giữa vũng tối, dầy bóng đêm.
- Thôi, tôi về, có gì tôi chạy qua với anh. Hải không để ý
tiếng “anh” bất bình thường nói trong hơi thở hụt. Người chỉ huy đứng
dậy, Hải tiển anh ra cửa hầm. Anh bước lên nặng nề, chậm chậm, lưng cong
xuống. Anh đi trên đất đá đào xới với dáng dấp của con hổ bị thương khi
trở lại, rừng xưa nay đã hoang tàn.
11 giờ 5 phút, pháo lại bắt đầu... C2 bị nặng hơn C và C1. Theo
thói quen, Hải nhẫm tính tính từng chục trái một; hắn hét lớn báo cáo
với lữ đoàn,
- Tôi và hai đứa con củng bị một lượt, toạ độ đặt súng ở yếu tố
cũ... Không ước lượng được, hai trăm trái rồi... tụi nó đang tấn công
C!!
Bắc quân từ Tây và Tây-Nam đồng nhào lên C, những người ở C2
nhìnxuống sườn đồi lúc nhúc những bóng áo vàng đục di chuyển chậm chạp,
lui tới...
-Nó đánh giặc gì kỳ vậy? Người hạ sĩ quan hành quân hỏi Hải.
-Tụi nó ”điên”, chẳng phải “điện biên” mẹ gì cả,đéo thấy ai ngu bằng tụi nó,
Lính đại đội Thinh nhỏm dậy khỏi giao thông hào, súng bắn không
cần nhắm, lựu đạn ném không cần lấy đà. Ta và địch cách nhau không đầy
một tầm lựu đạn. C2 vẫn im lìm dưới trận mưa đạn và lửa... Tám trăm trái
rồi... Chưa đầy một tiếng, nó đã nổ hơn tám bớp!! Hải ngồi bẹp trên
đất, nón sắc chụp xuống, lẫm bẩm những câu vô nghĩa với chính mình. Qua
máy truyền tin nội bộ (giữa các đại đội và ban hành quân tiểu đoàn),
tiếng chuyển lệnh của Thinh nghe chững chạc, tự tin, ”... đợi tụi nó đến
gần rồi hẳn bắn, nó chỉ là lính con nít, bây là nhẩy dù mà để thua là
yếu lắm đó...”. Hải cố mỉm cười nhưng nụ cười không thành dạng. Pháo vẫn
nổ như cơn địa chấn như xoay chiếc hầm nghiêng ngã... Tụi nó đòi dứt
đứa con của mình... Ờ mà sao chẳng nghe anh Năm gọi qua gì hết... Có
chuyện gì không nhỉ. Trí não Hải đã cứng trơ. Hắn không nghĩ được điều
gì hơn.
Mễ không buồn nghĩ đến số vũ khí của hai đại đội 1 và 3 tịch
thu được. Anh Năm chết, là tiểu đoàn phó, Mễ tự động lên thay thế. Trách
nhiệm quá nặng với tình thế kẹt cứng. Và anh Năm, người đàn anh thân
mến từ bao nhiêu năm, gian nguy, khổ nhọc bao ngày dài cùng chia sớt.
Vĩnh biệt anh, hầm bị ba trái cực mạnh, chịu làm sao thấu... Sao cuộc
đời chỉ dành cho anh toàn hoạn nạn. Hoạn nạn của ba mươi năm ở đời chưa
đủ sao?
Mễ, Hải, Liệu nhìn nhau... Trời chiều cao nguyên sẫm bóng nắng.
Đêm sắp đến. Đêm với chiếc bẫy sập xuống từ từ, lũ người tuyệt vọng
nhìn thấy những tia gân máu đỏ đục loáng ánh sáng phẫn nộ hấp hối trong
mắt nhau.
Liệu cho lệnh những người lính y tá đào đất lên, mang anh ra
ánh sáng. ngoài vết thương ở tim, người anh tím bầm từng chỗ, chiếc kính
vỡ, mắt nhắm, miệng hơi mở để lộ ra những răng cửa. Hải ngồi xuống, rờ
vào xác anh còn ấm, đập mấy cái lên áo. Lớp bụi mờ đục bay bay...
- Để tôi rửa cho ông ấy,
Liệu ngồi xuống với bông và cồn. Thi thể anh trầm trầm dưới
nắng Tây Nguyên đẫm màu vàng rực. Hết. Mười hai năm chiến trận chấm dứt
phút nầy đây trên cao độ 1020. Trông về bốn hướng chập chùng đồi cao
tiếp núi thẩm.
Trường Sơn ác độc nhận thêm một hình hài.
--------------------------------
| 1 | Phá lớn giữa hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên, do ba sông Thạch Hãn, sông Bồ và Sông Hương đổ vào. |
| 2 | 1945; 1968. |
| 3 | Đạn đầu nổ chậm, dùng xuyên phá công sự |
2.
Đốt Charlie,
Bây giờ là buổi chiều. Buổi chiều với nắng vàng và gió lộng.
Không còn tiếng nổ trong không gian, ba mỏm núi bốc những sợi khói nhỏ,
mờ mờ hơi nóng. Nóng không phải hơi nắng mặt trời nhưng do âm ỉ của
thuốc súng chưa kịp tan, còn lẫn khuất nơi cây cỏ, đất cát.
- Thiếu tá... Hải gọi nhỏ Mễ. Lúc riêng rẽ, ít khi hai người
gọi nhau bằng cấp bậc, nhưng bây giờ, tình hình đã khác, trách nhiệm và
bổn phận quá đổi nặng nề, thêm xúc động trong lòng qua cái chết của
người chỉ huy. Hải nhắc nhở Mễ,
Thiếu tá, tổng kết là mình chết 20, 40 bị thương cần di tản,
Mễ gật đầu, đưa mắt nhìn hỏi Liệu...
- Đúng vậy! Liệu đáp nhỏ. Anh toubib hết đồ nghề, nhìn xuống xác anh Năm, như một cách lẫn tránh.
- Dạ, có ông Hùng muốn nói chuyện với thiếu tá. người lính truyền tin đưa ống liên hợp cho Mễ.
Tiếng Hùng ở C1, vọng trong máy: Trình Mê Linh (danh hiệu
truyền tin của Mễ), ở tôi thì không có gì, nhưng từ sáng tới giờ sao
chẳng nghe 008 (Tiểu đoàn trưởng) nói gì với tôi hết... Giọng Hùng mang
vẻ trách móv xa vắng, ắt hẳn hắn đã linh cảm được tai nạn xảy ra. Mễ
nhìn xuống xác anh Năm, đôi mắt đỏ mệt mỏi chớp chớp, hình như có giọt
nước mắt lưng tròng,
- 008 đã bắt tay với ông Phan (Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Dù, đã tử trận Hạ Lào, 1971), biết thế thôi, đừng nói cho ai hay...
- Dạ, tôi nghe rõ Mê Linh. Hùng không còn hơi sức để hỏi gì thêm.
Súng lại nổ dưới Charlie. “Cất” anh Năm lại, đừng cho lính
biết. Tất cả ra giao thông hào. Mễ ra lệnh ngắn. Lời nói đanh cứng, dứt
khoát. Trong ráng chiều, những người lính ở C1 và C 2 chăm chú theo dỏi
trận đánh nơi cao độ C.
Bắt đầu, cối và sơn pháo từ những cao độ phía Tây bắn từng nhịp
bốn trái một vào căn cứ, xong bộ binh sư đoàn Điện Biên từ hai hướng
Tây, Tây-Nam xếp hàng như đi điễn hành tiến vào...
- Đúng là tụi nó điên rồi, không điều động, ẩn núp gì cả...
điện biên cái con c...!! Lính ở C1 và C2 dồng đứng dậy khỏi giao thông
hào chơi trò chơi mới,
- Mầy bắn vào cái hố có bốn thằng núp dưới kia, nếu trật thì để
tao. Hai người lính đại đội 112 thách nhau dùng súng phóng lựu M 79 và
hoả tiễn cầm tay M72 từ đồi cao bắn xuống. Trái đạn bay đi khoảng ngắn,
đất bụi bay lên... Bốn thân xác phơi trần trụi, vật vã, lăn lóc. Người
lính nhỏMiền Bắc đi giải phóng ai đây; trong phút chốc họ đã trở nên
thành những bia thịt sống thậm vô ích và chết với gía qua rẻ.
Cuộc tấn công vào cứ điểm C kéo dài năm đợt. Lính Thinh đánh
tỉnh táo, chắc chắn. Nhưng bỗng nhiên, Mễ có quyết định: Rút nó về, nhỡ
tối nay, nó hết đạn thì sao...
Hải gọi liền máy, bảo Thinh,
- 401 ( Thinh) đây 06 (Hải), anh xếp va-ly lại, nhớ mang theo mấy thằng rách áo, về ở với bố mẹ...
- Vâng, vâng, tôi nghe rõ, tôi cũng có ý định đó vì kẹo gần hết, nhưng sợ 008
và 007 (Tiểu đoàn trưởng và phó) hiểu lầm. Tội nghiệp chưa, đến
giờ nầy, Thinh vẫn không biết người anh cả của tiểu đoàn đã đi khuất.
Trong âm nói của Thinh vang động mối hân hoan vui sướng” về với bố mẹ”.
Thinh đâu tiên đoán được đến lượt mình ở ngày mai?!
Đại đội 111 rút được về C2, năm giờ chiều, trời chỉcòn chút
ráng đỏ, gió lạnh... Đỉnh Charlie trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn. Và
trong hoang vu hấp hối của cỏ cây, hằng trăm người lính Bắc Việt, “những
chiến sĩ Điện Biên của sư đoàn Thép, đơn vị vang danh bốn chiều lục
địa, những người lính Quân đội Nhân Dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà”, tất cả đồng nhào lên Charlie một lượt... Những “bàn chân gang thép
mang linh hồn vũ bảo vào Nam giải phóng, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm
lược”đồng chạy mau hơn, nhanh hơn... Để cùng lăn lộn, giành giựt trên
vùng đất vỡ nát, lầy lụa xác người và hơi thuốc đạn. Như một cơn đồng
nhập quẩn trí, tất cả đồng vất bỏ vũ khi, dùng tay trần cào, xới, bới,
móc... Đám lính đói sưđoàn Thép kiếm thức ăn. Họ tìm gạo sấy, thịt hộp
và C Ration. Cuối đường giải phóng, những “chiến sĩ Điện Biên anh hùng”
tìm ra “vinh quang đích thực” nơi những hộp thức ăn chế tạo tại Mỹ, giữa
đám xác người Miền Nam họ vừa tàn sát.
... Bom!! Bom!! Đốt cháy tụi nó hết!! Mễ nói như thét,
- Có ngay! Hải “khều” ngay ba phi tuần Napalm; toán lính Bắc
định tháo chạy, nhưng không kịp nữa. Theo một hướng Tây-Đông chính xác,
ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc... Lửa lồng lộng, lửa vàng đỏ
trộn khói đen cuộn lên lớp lớp... Trong cỏ cây cháy khét có mùi thịt.
Thịt của người và thịt của thức ăn. Lính cộng sản sưđoàn Điện Biên Phủ
vinh quangchết trên mục tiêu vừa chiếm lĩõnh - Những hộp thịt thức ăn
chế tạo tại Mỹ.
Ngày 13 tháng Tư, Mễ cho đại đội 112 xuống chiếm lại C. Lính
của Hùng “móm” vừa từ trên “hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay bởi một
hàng rào của cối 60, 82 và sơn pháo 75 ly bắn thẳng từ ngọn đồi phía
Tây. Bộ chỉ huy tiểu đoàn không một chút do dự: Cho thằng 2 về, tụi nó
hận mình về vụ hôm qua. Lên phía Bắc không được, Mễ thử bung quân ra
hướng Đông để tìm bãi đáp. Phải có một bãi đáp bất cứ gia nào, thưlng
binh, người chết, xác anh Năm...Tât cả cần phải di tản. Sự hiện diện của
những đau đớn nầy làm lòng nặng xuống, cũng có thể gây nên tâm lý phục
hận phẫn nộ, nhưng cũng là lần suy sụp lo sợ. Phải di tản gấp số thương
binh. Mễ nói với Thinh:
- Ông gắng ra chỗ nầy, (một trãng trống cách C2 khoảng ba trăm
thước về hướng Đông), kiếm được LZ( bãi đáp trực thăng), di tản hết
thương binh và người chết, tụi còn lại mới yên lòng được. Đừng để cho
lính có cảm giác bị bỏ rơi, tinh thần họ giản dị, dễ xúc động. Hơn nữa,
mình hết đạn và nước uống. Nhé, ông gắng ra cho được.
- Dạ, thiếu tá để tôi.
Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn đại đội chỉ trên khoảng
bốn mươi người rời căn cứ. Cái trãng trống kia rồi, 50, 40, 30...Gắng
chút nữa, mình có nước uống!! Thinh thúc dục người lính. Nhưng không thể
được. Bắc quân bắt đầu khai hoả, bốn phía cùng nổ từ các cao điểm chung
quanh. Nguy hiểm hơn, địch cắt đứt đường về, quân ở C2 cố ra đón bị
chận lại, không thể dùng một thứ vũ khí nào khác ngoài lựu đạn. tiến
không được, thối lui không xong, trên đầu bị vây chụp bởi đạn sơn pháo
từ dãy cao điểm phiá Nam dội xuống. Thinh ngã chết. Chỉ còn con đừng nầy
cho người lính trẻ. Thinh chết giữa trời, trên đồi cháy. Viên đạn cuối
cùng vừa bắn ra. Bóng Bắc quân vây kín.Trái lựu đạn còn lại cũng vừa
ném... Người sĩ quan tuổi quá hai mươi ngã xuống bởi chục nòng súng xả
đạn vào. Chuẩn uý Ba nhào đến ôm xác Thinh, hứng nốt những viên đạn còn
lại.
Mễ nổi điên trong giao thông hào, gọimáy liên lạc với đại đội 111,
- Ở đấy còn có ai?
- Có tôi. Khánh, sĩ quan liên lạc tiền sát pháo binh đáp mau.
- Anh coi đại đội, cố dẫn về lại tôi, có thằng 4 ra đón.
- Tôi nghe đích thân rõ. Người sĩ quan pháo binh gom quân làm
một mũi dài. ...Đánh!! Để tao đi đầu, lựu đạn mở hết kíp ra. Trung sĩ
Lung, người hạ sĩ quan thâm niên nhất dẫn đầu toán quân, xung trận như
mũi tên lửa. Đường về có được rồi, bắn bắn che nhau, Lung về chót...
Nhưng còn hai ông thầy!! Lung cố chạy ngược trở lại nơi xác của Thinh và
Ba. Một loạt đạn vô tình nào đó... Chầm chậm Lung ngã xuống. Ba xác
chết chồng lên nhau bất động.
Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2, căn cứ chính.
- Tụi nó dứt mình. Được, mầy “điện biên” tao “nhẩy dù”, xem ai
hơn ai... Tất cả ai ngồi được, kể cả bị thương, ra hết giao thông hào,
thằng nào kêu la khóc lóc, tao bắn chết. Chính tao bắn... tụi mầy để
thua, tao bombing vào đây. Chết, chết tất cả!! Mễ gào lên, xong ngất
xỉu.
Liệu nói nhỏ, thì thầm sát tai Mễ: Tim ông nó mệt rồi, đừng “gonfler” quá, ông chết luôn, hết người chỉ huy.
Lính sư đoàn Điện Biên thổi kèn xung phong dưới yểm trợ của cối
và sơn pháo. Quân ta sau mỗi đợt pháo, đứng khỏi giao thông hào... Vào
nữa...vào nữa đi con...Có đứa nào già không mầy? Tao chỉ thấy toàn con
nít, đánh tay không tao cũng có thể bóp cổ tụi nó được!! Trước mắt lính
nhảy dù, một lớp, hai lớp, những “đứa trẻ” cứ tuần tự đi tới... Những
lớp trẻ con chơi trò đánh nhau. Chơi trò chơi ác độc do ép buộc, tuyệt
vọng và vô nghĩa lý.
... Không nương tay với nó... Napalm Hải!!
- Có ngay!!
Hai chiếc skyraider xuống thấp như chưa bao giờ thấp hơn, dưới
đất thấy được chiếc mũ trắng của anh pilot; hình như anh muốn nhìn quân
bạn, anh muốn chào thăm hỏi như sau mỗi lần thả “líp” dù chót, phi cơ
thường hạ thấp cách mặt đất khoảng vài mươi thước để “chào bãi”. Ở đây
cũng thế, hai chiếc máy bay rà sát xuống coi như gần đụng ngọn cây. Thả
bom với cao độ như thế nầy chắc chắn không chệch một thước, bom nổ cháy
xém đến tuyến phòng thủ của quân bạn, đám lính Bắc lăn lộn trong bãi
lửa, chạy dạt ra xa... Nhưng ô kìa, hai chiếc skyraider không lên được
nữa... Lòng can đảm và tình đồng đội đã giết các anh. Các anh đã xuống
quá thấp để ném bom thật chính xác, để bung địch ra cho bạn. Các anh đã
quên thân mình... Hai cánh đại bàng chúi xuống. Chúi xuống nữa và bốc
cháy... Vĩnh biệt các anh! Đám cháy kết thúc trận đánh. thây người cháy
đen nằm chật sườn đồi.
...chúng nó đánh, chết như thế để làm gì nhỉ!? Một ngày của hai
mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu nóng đi qua. Trời tối dần. Đêm
xuống... Người lính dựa lưng vào giao thông hào liếm môiâ. Môi anh nóng
như miếng vỏ cây bi nung khô... từ sáng đến giờ chưa được uống nước. Anh
không còn sức để nghĩ thêm sau chữ “nước”.
Ngày 14 tháng Tư tiếp theo. Tính đến hai giờ chiều, C2 nhận hơn
2000 đạn “delay” và nổ chụp. toàn bộ tiểu đoàn 11 co mình trong giao
thông hào dưới cơn mưa pháo không dứt đoạn.
... Nó nổ xa mình. Hải thều thào,
- Ừ phía Tây, ngoài tuyến mình. Liệu tiếp lời, gật đầu đồng ý
với Hải. Nhưng thật ra cả hai đều tự dối, pháo không rơi một điểm, một
tuyến, pháo chụp toàn thể C2. Pháo tan nát. Pháo mênh mông. Tất cả những
lời nói chỉ là cách tự đánh lừa, trấn tỉnh đồng đội và cũng chính mình.
- Hôm nay 14? Liệu hỏi bâng quơ, gợi chuyện trong tiếng nổ ầm ỉ
sắc buốt. Mễ Hải không trả lời, đưa mắt dò hỏi. Còn lời nào trong cơn
mưa lũ của sắt thép vang độâng nầy ?!
- Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày đầy tháng con tôi...
Bốn con mắt lại mở ra. Mễ và Hải không hiểu ý Liệu. Không hể
hiểu nổi... Vì Liệu đang nghĩ: Không lẽ ngày đầy tháng con bố lại chết?!
“ Chết”, chữ nhỏ ngắn nầy làm tê liệt hết phản ứng. Chết đến từ tiếng
“bục” âm âm nơi xa, sâu trong rặng Big Mama... xong nổ “oành” đâu đây...
Hình như ngay trên đỉnh đầu, trong lòng nón sắc đang vang động u u.
Giữa khoảng cách kinh khiếp nầy chữ “chết“ hiện ra sáng rực như một giải
quang báo, tiếp nổ bùng với toàn hể sức công phá. Tiếp tục... tiếp
tục... Bốn cây 130 ly nơi xa nã đạn xuống Charlie nhịp nhàng từng ngắt
khoảng ngắn.
Năm giờ chiều, trận mưa đại pháo chấm dứt để cối và sơn pháo 75 ly điểm giọt, bắn thẳng vào căn cứ.
- Xong rồi, tụi nó “chơi’ mình lại. Mễ đứng khỏi giao thông
hào. Đêm nay là quyết định, mình và nó last fighting... Mễ báo cáo với
bộ chỉ huy lữ đoàn,
- Bây giờ tụi nó hết “in coming (pháo kích)”, và bắt đầu
“ground attack”. Không phải Mễ sính dùng tiếng Mỹ, bởi thông thường,
những danh từ kia phải được nguỵ hoá, nhưng bây giờ tìm đâu ra thì giờ
để dò tìm từng từ trong bảng “Ám danh đàm thoại”.
- Nó đánh anh chưa? Viên lữ đoàn trưởng ở căn cứ Võ Định vào máy liên lạc trực tiếp với Mễ.
- Bắc đầu ở hướng cũ, tây và tây-nam, heavy attack,
Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng colt lên nòng, bác sĩ Liệu lúi
húi tìm mấy trái lựu đạn... Tôi hết đồ nghề bác sĩ rồi, chơi “đồ chơi”
mới vậy, lần sau đi hành quân, tôi mang một khẩu đại liên 60!! Không ai
còn sức hưởng ứng câu đùa của Liệu. Mễ nhăn mặt đau đớn, ngày hôm qua bị
một quả pétard (thủ pháo, một loại lựu đạn biến chế) nổ quá gần, sức nổ
ép cứng xương sườn vào vách hầm, để lại những vết máu bầm lấm chấm...
Trời tối dần, hơi núi đùn lên cao, đậm đặc thêm vì khói súng.
Bắc quân đã chiếm được một phần giao thông hào, tuyến phòng thủ của đại
đội 114...Trình Mê Linh, nó lấy của của tôi một “khúc ruột”. Cho, đại
đội trưởng 114 báo cáo với Mễ,
- Hải, nói với lữ đoàn nó vào tuyến mình rồi,
- Tao...tao mệt... nói không nổi, Liệu giúp hộ...
Bác sĩ Liệu, to người, béo mập, đang khom lưng lẫy súng colt
lạch cạch như trong phim cao-bồi, chớp ống liên hợp máy truyền tin,
... Dễ thôi, để tôi... Tụi nó cắm được một phần vỏ lạc của tôi... Liệu ề à với giọng tỉnh táo đùa cợt,
- Ông phải la lên mới được, đùa thế, ngoài ấy tưởng mình giỡn,
- Giỡn làm sao, không đùa như thế, chẳng nhẻ lại khóc lóc mếu
máo sao... Ê... chạy đi đâu!! Liệu quay nòng súng colt về phía một anh
lính đang nháo nhát chạy vào khu giao thông hào trung tâm,
- Đi ra, ông bác sĩ không bắn mầy thì tao bắn cho mầy biết chết
như thế nào? Mễ hét lớn với người lính... “biết chết như thế nào?!”. Mễ
cũng buồn cười vì lời nói của mình... Chết rồi, thì biết chó thế nào
nữa?! Ầm! Một trái bộc-pha nổ thật gần, bắn Mễ ngã ngữa người xuống. Mễ
lồm cồm bò dậy, sờ lưng,
...bác sĩ, chắc tao bị thương nặng!! Mễ thều thào.
Liệu xoa tay lên lưng Mễ, thân áo rách lỗ chổ...Đếch có gì cả,
mảnh nhỏ như bụi, vì ông yếu sức nên ngất thế thôi, đây là hậu quả những
cú đấm của thằng Hennessy, Couvoisier trước kia!!
...C... giờ nầy mà mầy còn trêu được!
- Stupid! Why you fire forty-five? Anh vố vấn trưởng, thiếu tá Duffy hét vào tai Liệu,
- I have only this... Mẹ mày, giờ nầy còn why với what....What cái cần câu ông ấy,
Một đợt, hai đợt... năm đợt, Bắc quân tràn vào, bị đẩy ra, lại
tiếp tục tràn vào, chiếm được một đoạn giao thông hào, xong lấn dần từng
đoạn,
- Không xong rồi, nó nhiều “tiền” quá! Hải lẩm bẫm.
Mễ nhìn Liệu, Hải, cố vấn trưởng Duffy. Tôi muốn ở lại! Mễ chắc giọng.
-Nó vào chỗ thằng 4 (đại đội 4), đang qua chỗ thằng 2, mình hết đạn... Dọt, tôi đề nghị. Hải khôn ngoan, dứt khoát.
- Phải, mình “ra” đi, ở đây chịu không nổi, tụi nó đông gấp mấy mình. Liệu tiếp theo. Chữ “ra” ráo hoảnh trống không.
Mễ im lặng, gở nón sắc ra khỏi đầu,
...No hesitation, the best way... Sir? Duffy, Thiếu Tá Lực
Lượng Đặc Biệt Mỹ, người quấn băng loang lổ máu khô, anh đã bị thương ba
nơi trên thân, nhưng quyết ở lại với tiểu đoàn. Viên cố vấn, hiểu được
phút giây nghiêm trọng đối với Mễ; lần đầu tiên anh gọi người cùng cấp
bậc, một thiếu tá người Việt với danh xưng kính trọng, “sir”.
- Đồng ý, cho thằng 2 dẫn đầu, xong đến đại đội chỉ huy và
thằng 4 bao chót. Hải, gọi máy qua thằng 3, bảo nó “nhổ neo” ra điểm hẹn
nầy. Mễ chỉ một vùng tập trung ở hướng đông-bắc trên bản đồ. Bảo nó đi
ngay, mang theo thương binh.
Lần đầu tiên trong đời tác chiến Mễ phải “chạy”, Mậu Thân,
1968, ở Huế, với đại đội chỉ còn ba mươi người, dẫu trùng trùng nguy
khốn, Mễ vẫn điều quân phản công chiếm lại cổng thành Thượng Tứ. Nhưng,
lần nầy, viễn ảnh toàn bộ tiểu đoàn bị tràn ngập, Mễ không còn cách nào
khác hơn.
- Hướng đông-bắc, 800 ly giác, thằng 3 sẽ ra đó với mình. Hải
chuyển lệnh cho Hùng “móm”, thành phần xung kích còn lại cuối cùng của
đơn vị.
...OK, em nghe, em làm được cái một. Hùng “móm” vẫn ranh mảnh như không có chuyện quan trọng đang xẩy ra.
Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời tối thẫm và cây rừng đan
lưới. Chỉ tiếng lá khẽ động dưới bước chân cùng những thanh âm rên rỉ
gầm ghìm trong cổ họng.Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như muốn tan thành vật
vô hình. Sau lưng họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn. Bom đã thả xuống
khi người lính cuối cùng đại đội 1 ra khỏi vòng vây. Thương binh nặng và
xác “anh Năm”, chuỗi cảnh tượng chập chờn chồng lên trí óc Mễ. Mệt, cảm
giác rõ rệt nhất, ba ngày và đêm không ăn, ngủ, chỉ nhấp chút nước lã
cầm hơi và cuối cùng, cuộc rút quân trong đêm... Đi nữa đi Hùng, đúng
hướng rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao giờ đến chỗ trống thì báo
tôi. Nhớ liên lạc với thằng 3 ở phía trái, thấy mặt trời thì bảo. Mễ thì
thào chuyển lệnh cho Hùng, đại đội trưởng đại đội 1.
Mặt trời chưa thấy, đêm còn dầy. Dầy từng khối lớn mông mênh và
đặc cứng. Hình như đã đến đáy một “tan-véc”(khe nhỏ chạy giữa hai chân
núi), chân bước lên lớp đất ẩm. Nước! Người lính đặt tay xuống “mặt
nước”. Không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và đất bùn, khe suối mùa, chưa có
nước. Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi liếm miếng nước vô
hình đó .
Qua khỏi “tan-véc”, lên đỉnh đồi, thấy lại sau lưng ngọn lửa ở
C2 bập bùng. Bạn bè ta còn đó, sống làm sao được hở trời ?Mễ kiệt lực
hỏi,
- Hải, khi chót mình để “anh Năm” ở đâu ?
- Ở giao thông hào, nơi hầm đại liên. Mễ và Hải chỉ nói với
nhau được câu ngắn trong đêm. Nguy biến và rình rập vẫn còn rất nhiều.
Sao trời chưa sáng nhỉ ?Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó càng
tốt, giữ được súng và thương binh nhẹ như thế này cũng tạm coi như là
“đẹp”. Đẹp, hình như Mễ cười chế riễu mình trong bóng tối. Thôi, đừng
nghĩ gì nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt trên đầu,
khi cởi ra còn nguyên ảo giác của âm vang tiếng nổ lộng trong lòng chiếc
nón kim khí. Mệt quá! Sống rồi! Hùng “móm” kêu một tiếng sảng khoái,
bốc máy báo cáo cho Mễ, nhanh như chớp:
- Tôi thấy “nó” rồi phía tay trái tôi.
Mễ nhìn lên tàng cây, trời tím nhạt chưa có ráng nắng, nhưng
ngày đã bắt đầu, trãng trống vùng tập trung đã gần đến. Thoát rồi chăng?
Mễ tự tin nhưng cũng rất đầy kinh nghiệm: Nó phục mình ở đây nữa thì
tan hàng!! Ý nghĩ kinh khiếp như một mũi dao cực bén cắm ngay đỉnh
đầu.Mễ không dám nghĩ tiếp...
- Kêu thằng “Đỗ Phủ” đến tao Hải,
- Duffy come here... Viên thiếu tá cố vấn đang đi sau Hải và
Liệu nghe kêu, mỉm cười bước lại. Ba lần bị thương, bốn ngày chiến đấu
không ăn, ngủ, Duffy vẫn “cứng” như một khối thép, đầu đội mũ đi rừng,
khẩu M18 đặt ngang hông, tự tin và bình thản như một ý chí không lay
chuyển. Tiên sư thằng cha này “dur” cả hồn lẫn xác, number one! Liệu nói
với Hải khi Duffy qua mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ý, mỉm cười:
Hello Doc!!Trong phút chốc sự việc khủng khiếp của bốn ngày căng cứng
như vụt tan đi. Nắng cũng vừa đến, nắng đầu tiên của ngày, lòng người
lính duỗi ra theo độ ấm của vệt ánh sáng. Sống được rồi mừng biết bao
nhiêu!
- Đây nhé Duffy, vùng tập trung của mình, 113 bên trái, phe ta
bên phải cùng “move” lên. Mình làm một cái LZ (bãi đáp), xong “mày” gọi
“Tây” đem máy bay tới móc mình ra, OK ?
- OK Do !! “Đỗ Phủ” gật đầu lia lịa... Good...very good, you’re the best commander! “Đỗ Phủ” đưa ngón cái lên ca tụng Mễ.
- Tao hay hơn nhiều, cú này bị “kẹt”, mày khen làm tao ngượng. Duffy không biết Mễ nói gì, cười rộng mồm, Mễ cười theo.
Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và Hùng “mập” cùng lên trãng
trước. Hai cậu Hùng “bắt tay” nhau, làm thành vòng phòng thủ, phần còn
lại của tiểu đoàn với đám thương binh “bò” lên tiếp... Xong rồi, khá an
toàn, giữ được cái trãng là tốt, có đường thoát rồi.Duffy,có tàu bay
chưa ?
- OK! Ten minutes, sir!
Nhưng không còn “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa! Một
trận mưa rào, mưa đầu mùa... Mưa bởi một rừng cối và sơn pháo từ những
cao độ phía đông “tưới” xuống. Bắc quân tấn công bộ từ đông-nam lên.
Không hầm hố, không đạn, mệt mỏi, đói khát của bốn ngày đã đến đỉnh cao
nhất chịu đựng. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối trên
trãng cỏ tranh trơ trụi dưới lưới chụp đan dầy bởi lửa, khói và mảnh đạn
thép... Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết! Bắc quân ào ào
như nước lũ tràn đi qua con đê bị vỡ. Tiểu đoàn 11 tựa tình cảnh con báo
kiệt lực bị vây khốn bởi một rừng ong cực độc! Bây giờ là 8 giờ sáng
của ngày 15-4-1972, Tiểu Đoàn Nhẩy Dù mới tinh của Anh Năm, tiểu đoàn đã
khoan thủng bức tường thép của cộng quân ở Damber; tiểu đoàn “nướng
sống” hai tiểu đoàn của sư đoàn Điện Biên trên cứ điểm C- Thua. Thua đau
đớn và thua vô lý!! Đâu còn có thế để dựa vào. Đâu còn lực để đương cự
?!
Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực”.Thế đã mất ngay từ ngày
đầu tiên khi bước xuống cao điểm với một nhiệm vụ “phòng thủ” quá mỏng
manh thụ động, và lực nào còn nổi sau bốn ngày hay 156 giờ tác chiến
căng thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu thốn toàn diện. Hình như
mọi người đều không ăn, uống kể từ ngày 12.Uống, nếu có chỉ là chữ gọi
động tác “nhúng” chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt. Tan hàng!! Những
người sống sót còn lại tan biến vào rừng cỏ tranh.
Người ở lại với CHARLIE,
Charlie tan, trên đất đá điêu tàn chỉ còn vươn vãi khói xám và
thây người. Trong đó có Anh- Người đàn anh kính mến đã cùng tôi chia xẻ
quãng đời dài. Những dòng chữ viết để nhớ Anh - Nguyễn Đình Bảo.
Ngày 22 tháng 5, ông Nixon đi Nga, không ít thì nhiều chuyến đi
ấy đã có tác dụng với cuộc đại tấn công của Bắc quân vào ba quân
khu.Rất nhiều giả thuyết về cuộc kịch chiến này được đem bàn tán, nhưng
tất cả đều đồng ý: Chuyến đi có ảnh hưởng đến trận đánh và đây cũng là
trận cuối mùa, một mùa đại loạn đẫm ướt máu đỏ chảy trên những thân thể
gọi là “người Việt Nam”. Ngày 22 tháng 5 ông Nixon khởi đầu chuyến đi,
ngày 12 tháng 4 anh chết. Sao anh không gắng sống? Anh chỉ cần gắng thêm
một tháng rưởi nữa, nếu chưa chấm dứt, chiến tranh có thể mang những
hình thức khác, cuộc đại tấn công này sẽ được đình chỉ lại, hoặc chuyển
qua vùng khác... Những vùng dễ đánh để anh có thể tung hoành như anh đã
làm nhiều lần trong tháng năm chinh chiến dằng dặt. Và biết đâu chiến
tranh sẽ biến thái lại nên thành chiến tranh du kích, anh là tiểu đoàn
trưởng đơn vị Nhẩy Dù, làm sao có thể chết được trong những “chiến tranh
an toàn” như thế! Tại sao anh không gắng sống?Tại sao thế hở trời ?
Vẫn biết rằng đi chiến trận là mất mát. Không chết trước thì
chết sau... Trước anh cả trăm ngàn người đã nằm xuống. Anh đã cùng tôi
chứng kiến bao nhiêu lần “nghỉ phép” của ông Huệ, Thừa, Hổ... Anh gật
gù, “Thôi tại số, mình gắng chịu vậy...”. Anh gắng chịu đã quen. Anh đã
thoát nhiều lần. Từ trung đội trưởng tiểu đoàn 8, anh qua tiểu đoàn 3;
làm đại đội trưởng tiểu đoàn 1 và tiếp theo tiểu đoàn 9. Anh đã dự bao
nhiêu trận từ thuở ông Đống mới làm tiểu đoàn trưởng giờ này là Trung
Tướng Tư Lệnh; anh đánh trận từ lúc chiến tranh còn như là trò chơi, ông
Tư “Hòa Hảo” đi thuyền vào họp với Việt Cộng, đám giặc cỏ chỉ vài cây
súng ngựa trời hay 2 khẩu Mat 36 để thay đại liên. Từ những trận đánh
nhỏ đó, anh được “trưởng thành trong khói lửa”, thành ngữ nói ra nghe có
vẻ “cải lương” nhưng quả thật không còn chữ nghĩa nào để dùng chính xác
hơn. Anh đánh trận Ấp Bắc, giải vây đồn Bổ Túc vào những năm 60, với
những trận đánh mở đầu “chiến tranh giải phóng”. Chiến tranh lớn dần như
một thứ quái thai được mùa, như tế bào ung thư ngon trớn, chiến tranh
lớn như sinh vật quái dị ở hành tinh khác đến đây nẩy nở theo cùng chiều
rộng của không gian. Khói lửa từ đấy dậy lên như giông bão. Trong “môi
trường” hào hùng độc địa nầy - Anh trưởng thành.
Anh già hơn không phải do số tuổi, nhưng chiến trận, hành quân
như nối mối thời gian để nhắc nhở mỗi ngày, mỗi tháng, năm anh qua...
Năm 1965 giải vây Đức Cơ, Pleiku; năm 1966 bị phục kích ở Cheo Reo, cũng
năm này “giải phóng” Bồng Sơn, Tam Quan.67 “lội” nát người suốt vùng
Thừa Thiên, Quảng Trị, từ cái làng nhỏ ở bên kia sông Hương nhìn ra phá
Tam Giang, đến cuộc tấn công vào khu phi quân sự đổ từ đèo Ba Giốc
xuống. Hết 67 đến 68 anh đem quân về vùng đồng Ông Cộ, Hốc Môn, Bà Điểm;
Việt cộng tấn công đợt Hai, tiểu đoàn 9 do anh làm “ông Phó” có cơ hội
“rửa mặt” nhân vụ tịch thu cả hầm vũ khí chở đầy một chiếc F.O.M.Chiến
thuật thay đổi, từ ven đô anh di chuyển về Tây Ninh để “cày” từ Tống Lệ
Chân qua Katum, Trại Bí... Suốt một vùng biên giới dài theo con sông Vàm
Cỏ anh đi như không mệt... Anh đi như định mệnh đốn mạt bắt anh dính
liền vào mỗi thước đất phải bước qua.
Nhưng chưa bao giờ nghe anh than tiếng nhỏ. Sự chịu đựng và vẻ bình thản là tính chất căn bản của anh.
- Mầy biết nhá, tao di cư vào, mỗi ngày phải đạp xe mờ người
chạy từ trại định cư đến Phú Thọ để lấy khẩu phần bánh mì và năm đồng
bạc. Mầy biết, tao tập thể thao to chừng này, thằng Tây bán thịt gần
trăm ký bị tao ném một cú đòn vai, nằm luôn.
Anh là con nhà võ, thắt đai đen nhu đạo thời kỳ 56, 57, tính
chất võ chân truyền này là nền tảng tinh thần của anh. Đó là một tinh
thần rất thường ở bề mặt nhưng phần trong rất “sáng”; một thứ “sáng” mã
thượng, độ lượng và chân thật - Chân thật và thẳng thắn tuyệt đối. Anh
sống ở đời giản dị và thẳng thắn như kẻ có võ công thượng thừa lại thêm
tâm tư nhân ái. Anh không một lần than thở dù lúc làm “ông Phó” ở tiểu
đoàn 9 anh bị “kẹt”. Anh bị nạn. Anh bị “ép”. Bị “nát như cái mền”.
Nhưng tất cả đã không làđáng kể... Hãy nghe anh nói:
- Mày thấy, tao là lính tác chiến, rồi cũng có ngày tao phải
chỉ huy, nhỡ bị kẹt là cái hạn của mình, sau đó mình “bốc”. Anh cong một
bàn tay lên làm cú “bốc” kèm theo tiếng chửi thề “mẹ”. Sự bực dọc của
anh chỉ được diễn tả chừng ấy. Không hận đời và tin ở mình.Trong đời
sống bình thường, anh sống với thái độ khắc kỷ thật cao thượng.
Anh Năm kính yêu,
Anh chết ngày 12 tháng Tư, đến giờ này, sau ba ngày xác anh vẫn
chưa móc ra được. Ngày 14 ông Bạch Long cho hai trực thăng và một
Skyraider vào, cố làm một bãi đáp để đưa anh ra, cả ba chiếc đều bị
“shotdown”. Người lính về nói với gia đình như thế, cháu Tường bẩy tuổi
đã lớn, nhưng cũng chưa hiểu nổi phận bi thảm của lần mất bố, kể lại câu
chuyện... Kể lại phút anh nằm xuống với lồng ngực bị vỡ. Không biết chi
tiết đó có đúng thế không, nhưng cháu cứ lập lại với mọi người xem như
như một nét “xuất sắc” của anh. Tội nghiệp cháu quá anh ơi, nó đang lún
xuống trong một bất hạnh với quả tim hồng và nụ cười sáng, nó nắm tấm
ảnh lúc anh còn ở trường, thắt đai đen bên cạnh ông Hiếu... “Bố cháu là
những người “xuất sắc”!Ôi anh đã sống, chết bới những hoàn cảnh cực độ.
Những phiền não cùng cực và vinh quang bốc lửa. Anh di chuyển giữa những
cực điểm với tâm tư bình yên, lặng lẽ, chiếc lưng gù xuống chịu đựng.
Giờ này anh mới “thật sự nghỉ ngơi”, một cách nghỉ ngơi cay đắng và khắc
nghiệt. Cuộc đời đã “ta-pi” anh trước khi anh kịp đứng lên rũ áo, thối
tiền.Anh thua trong sáng suốt và nín lặng cũng như ván bài ở lăng ông
Cẩn ngoài Huế trong tối mùa đông năm xưa... “Tao biết mày tháu, nhưng
cũng cho mày ăn.”Anh úp bài cho tôi vồ tiền. Anh Năm ơi, anh bị cuộc đời
“tháu” cú này nữa. Cúù tháu độc địa và hết thuốc chữa.
Anh chết thật rồi!! Tin cuối cùng rõ ràng về anh do Hải “khều”
nói lại không thể sai vào đâu nữa. Hầm anh hứng đúng ba trái hỏa tiễn,
mảnh ghim vào tim và anh chết ngay phút đầu tiên, khi “tụi nó” bắt đầu
đánh biển người vào Charlie.Hải “gói” anh vào ba lớp poncho, nhưng máy
bay không xuống được, Mê Linh lại bị thương. Chúng nó phải “rút lui
chiến thuật” vì pháo và hỏa tiễn rơi đến cả ngàn trái vào căn cứ, đặc
công cảm tử lại phá được hàng rào ngoài.Giữ thế nào được nữa, Mễ lẫn Hải
đều bị thương, chúng cố điều động phần sống sót còn lại để mở đường
máu, bảo toàn đơn vị.Phải bỏ anh lại, chắc chắn Mễ đau đớn lắm, vì hắn
và tôi đều nặng ân tình với anh biết mấy; từ thuở ở tiểu đoàn 9, anh
“che” cho hắn bao nhiêu đòn; Mễ là đứa rất có tình, bỏ anh lại nơi chốn
núi rừng, vùi dưới đống đất cát và lửa đỏ chắc là vết thương dài đời
không hết, tâm hồn khó được phần quên lãng nguôi ngoai.
Mấy hôm nay tôi ngủ không được, mắt nhắm lại thấy cảnh anh đang
chết, những giờ khắc cuối cùng, anh chống ngược mắt xuôi tay và đi
khuất... Tưởng đến tiếng nói, nụ cười và toàn thể không khí của bữa cơm
chót trong vườn Tao Đàn, đâu có ngờ đây là bữa cơm vĩnh biệt?! Chưa bao
giờ anh vui vẻ và tự tin cho bằng thời gian đó: “Số tao hết cực rồi, hạn
33 tuổi đi qua... Tao làm lớn cho mày nhờ.”Tôi cũng nghĩ như thế, vì
cái “võ nghiệp” cứ phú quý thụt lùi, thôi thì chỉ mong ngày anh “làm ông
tướng!!”Ngày đó sẽ không bao giờ có nữa, cũng không còn những ngày vui
như buổi chiều cuối năm mờ hơi sương, anh và tôi đứng ở sườn đồi nhìn
xuống sông Hương bốc khói lam, nồng hớp rượu “số Bảy” không đá, nghe
từng âm ba rộn rã của men rượu tan trong máu và cất tiếng cười bất
chợt... Tiếng cười hào sảng thống khoái vang động không khí u trầm bí
ẩnchiều cuối năm dầy sương lạnh.
Tôi cũng tin vào số mạng, biết rằng anh có tướng lộ xỉ không
được tốt, nhưng bù lại tai anh dày, có thùy châu, bước đi vững chãi...
Nên nghĩ rằng anh sẽ đi qua, anh sẽ vượt qua tất cả hoạn nạn, vì anh đã
hoạn nạn dư thừa, hoạn nạn ngập mặt. Từ tuổi thiếu niên anh đã gian nan
phấn đấu, phấn đấu để thành người và dựng đời, anh đối chọi với khó khăn
như con trâu miệt mài trên đồng ruộng. Năm nay anh 35 hay 36 tuổi, tôi
không được rõ, nhưng hình như anh chưa có ngày nghỉ ngơi toàn nghĩa.
Cuối đời, vừa le lói chút ánh sáng bình yên và hạnh phúc, anh hân hoan
sửa soạn tương lại, rộn rã như cô dâu tốt số. Đời đã quật anh cú chót và
anh đành thua. Bao nhiêu năm tranh sống để lúc chết quả tim đang hả
miệng cười.
Tiểu đoàn rút khỏi Charlie và phi cơ oanh kích căn cứ. Ôi sao
tàn khốc thế hở trời?! Anh đã sống cay nghiệt sao cái chết lại quá bi
thương. Ba lớp poncho gói thân anh làm sao che chở nổi hình hài vô tri
dưới cơn mưa bom, bão thép. Phép màu nào giữ nổi xác thân anh? Vĩnh
biệt, Anh Năm kính yêu...Nơi chốn hư không nào...Mong linh hồn anh được
lần yên nghỉ.
Viết lại,
12, Tháng Tư, 1972 - 12 tháng Tư, 1998.
Lần “thật chết như luôn sống lại”,
Dù bao lâu,
Cách bao xa.
° ° °
Tạm kết,
giữa Mùa Hè,
Charlie mất, Delta ở phía nam do tiểu đoàn 7 Dù phải rút đi vì
không chịu nổi cuộc cường tập kéo dài qua ngày thứ tư; đai Nhẩy Dù tan
vỡ dần như chuỗi dây xích nút đầu bị phá.Chỉ còn lại hai cứ điểm chót là
Bravo và Métro ở trái, phải Võ Định. Nhưng Võ Định không thể là một
điểm chiến thuật vững chắc khi cạnh sườn đã bị nhổ. Ngày 24, tháng Tư,
phi trường Phượng Hoàng (tây Tân Cảnh), Tân Cảnh và hai căn cứ Diên
Bình, Zuzu ở phía nam lần lượt tan rã. Võ Định không còn là một cứ điểm
có khả năng kháng cự và bộ chỉ huy lữ đoàn 2 đưa tiểu đoàn 7 dần dần mở
đường xuôi nam hướng Kontum. Kontum dưới ảnh hưởng của việc mất Tân Cảnh
biến thành cảnh địa ngục với những trận đánh sát nách thành phố, như ở
Đại chủng viện, khu phi trường. Những đơn vị đặc công Bắc quân với ám
hiệu riêng: Tay áo cuốn lên quá cùi chỏ, quần xắn quá đùi, mảnh vải
trắng buộc quanh vai, đã đột nhập vào những nơi trọng yếu của thị
xã.Công trường 2 cộng sản sau khi dưỡng quân, vượt sông Pô-kơđánh vào
sườn của lữ đoàn 2 và các chiến đoàn Biệt Động Quân. Hết, lữ đoàn 2 Dù
chỉ còn mỗi đường, các tiểu đoàn tự nương bảo vệ lẫn nhau rút về Pleiku.
Lữ đoàn lại hết nhiệm vụ Vùng II để ra Vùng I. Đường về Pleiku phải qua
đèo Chu Pao đỉnh núi 953 trông xuống sông Dak Yeul với những cao độ
thẳng đứng. Chỉ còn mỗi đường này là sinh lộ, nhưng sinh lộ phải qua
điểm chết: Đèo Chu Pao. Hai đại đội của tiểu đoàn 7 Dù do Nguyễn Lô
(Tiểu đoàn phó) chỉ huy mở một đường đi qua điểm chết với chấp nhận tỷ
lệ thiệt hại 50% quân số. Và cũng như bao lần của mười năm chiến trận,
Lô mở được cửa ngõ về Pleiku, dân và quân theo đó rút đi.Rút đi khỏi địa
ngục, vì Kontum không còn là thành phố sống, người dân thất thần dáo
dác giành dựt nhau kiếm một chỗ trực thăng ở sân vận động... Giữa bụi mù
và tiếng nổ đại pháo, cảnh người sống cuồng loạn đổ xô vào lòng trực
thăng bất chấp tiếng súng thị oai của quân cảnh. Họ chen nhau như nước
tràn qua đê vỡ để đến gần, đến gần hơn chút nữa ngưỡng cửa trực thăng,
và lúc tay vừa chạm được khối sắt xám phủ bụi đỏ, chân cong lên sắp bước
vào lòng của “hy vọng sự sống” thì một cơn sóng khác, đạp họ ngã xuống,
kéùo hút ra xa...
Kontum cháy ngọn lửa hồng lên cao hẳn khỏi rừng xanh. Chỉ còn
mỗi hình ảnh bình yên nơi thành phố đang bùng lửa này là hàng phượng đỏ
hoa gần câu lạc bộ ngã cành xuống mặt nước sông Dakpla mờ sương khói.
Nhưng phượng cũng có màu đỏ - Màu của máu.
3. AN LỘC,
Miền Đông không bình yên
Bỗng chốc thị trấn nhỏ về cực đông-nam phần cuối con đường 13
biến thành địa danh vang dội toàn thế giới... Guernica, Arden, Berlin
của Thế Chiến lần Hai không còn ý nghĩa khi so với thị trấn bề dài 1800
thước và bề ngang từ cửa Phú Lổ đến hàng rào phòng thủ tiểu khu đo đúng
1000 thước. Trên diện tích bé nhỏ nầy, lại nhỏ hơn nữa của những ngày
“tử thủ”, khi thành phố “co” lại với khoảng 900 thước bề dài còn lại-Một
ô vuông cây số hứng chịu gần 60 ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn tập trung
từ mười vị trí trở lên trong 100 ngày vây khốn. Thế nhưng, An Lộc đã
chịu đựng được. Quân và Dân ở An Lộc đã chịu đựng được. Chịu đựng- Sức
mạnh tự nhiên không bờ, không đáy- Với nó, trong đó, Người Việt ngụp lặn
miệt mài để tồn tại.
Sống! Thượng Đế ban món quà hiếm hoi quý giá này cho dân tộc ta
quá khó khăn, hẹp lượng. Chỉ được sống, đám dân và lính ở An Lộc đã
phải căng mình hứng chịu dài cơn bão săm sắp tiếng nổ và mảnh thép,
trong ba tháng. Họ lên đến những “đỉnh” đau đớn chóng mặt, như từ một độ
cao hai trăm thước, người mẹ sẩy tay đánh rơi đứa con khi trực thăng
chao mạnh. Cái chấm nhỏ bé tội nghiệp rơi dần dần vào một cõi xa xăm mất
hút...Không nghe được tiếng động của thân thể trẻ thơ đập mạnh trên đất
đá. Không có tiếng thét bi ai của người mẹ mất con... Chỉ âm động phần
phật cánh quạt phi cơ và gió bạt trên không gian im lặng. Từ đỉnh cao
hai trăm thước đến vực sâu hai thước giữa lòng đất đỏ lạnh tanh, người
cha bình thản ngồi xếp ngay ngắn, thẳng hàng hình hài năm đứa con và
người vợ, sau khi đã đặt tay chân đúng vào thân thể của mỗi đứa.
Nỗi đau đớn dài như con đường 13 từ An Lộc về Chơn Thành. Lai
Khê, Bình Dương, An Lộc, Lộc Ninh... Tên đặt ra nghe sao quá thê thảm,
tội nghiệp, làm gì có “bình an” nơi miền Đông tàn khốc này... Tất cả chỉ
là ước vọng. Nói thật hơn, chỉ là những hư vọng khó có lần hiện thực-
Ảo giác mù mờ khi con người đã đến đáy khốn cùng. Chạm tay sự chết.
Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A được đánh vần là
“Alpha” hay “Anh Dũng”.An Lộc cũng bắt đầu với chữ A, thế nên tôi gọi
“An Lộc là Anh Dũng”; tĩnh từ này đã được dùng quá nhiều, đến độ nhàm
chán, nhưng ngoài nó ra không còn một danh từ nào xác thực và đúùng đắn
hơn. Phải, An Lộc là Anh Dũng. Chiến đấu ở An Lộc- Sống ở An Lộc- Chết ở
An Lộc - Tất cả đều trùng trùng tràn ngập, vây kín, kích động bởi tính
chất anh hùng. Tôi không nói quá lời, với chân thật của người cầm bút và
tấm lòng giản dị của người lính, xin xác nhận lại một điều: An Lộc -
Anh Dũng. Yếu tính của thành phố, người và sự kiện nơi An Lộc là tỉnh từ
giản dị đầy đủ kia.
Mười năm kinh qua trận địa, bao nhiêu trang sách về binh sử đã
được đọc, tất cả đều bị An Lộc vượt xa, vượt một tầm quá lớn mà không
một trận chiến nào có thể bén gót được. Kiến thức quân sự, ý niệm chiến
tranh, tất cả bị đổ nhào vô nghĩa, vô dụng với An Lộc. Chắc chắn như
thế, nếu ai hằng đến sống, chết cùng với nơi chốn ấy một lần. Những
“huyền thoại” về An Lộc đã được khai thác, nhưng không hết. Những người
kiệt liệt của An Lộc đã được nhiều nhắc nhở nhưng chưa đủ. Tôi nối tiếp
công việc này vì An Lộc không những chỉ có Tướng Hưng với các Trung Đoàn
8, 9, 48, 52 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Đại Tá Huấn với Liên Đoàn 81 Biệt
Kích Dù; Liên Đoàn 3 BĐQ, và Đại Tá Nhật với thành phần cơ hữu Tiểu Khu
Bình Long. Ngoài những lực lượng này, còn có Lữ Đoàn I Nhẩy Dù, đơn vị
tham chiến từ ngày 7-4, bắt tay An Lộc lần một vào ngày 16-4 và lần thứ
hai sau trận đánh trên tất cả các trận đánh, Tiểu Đoàn 6 Dù “clear” hai
cây số còn lại vào đến Thanh Bình (hay đồn điền Xa Cam) trong “bốn mươi
lăm phút chiến trận”.An Lộc được “bắt tay” lần thứ hai lúc 17g45 ngày 8
tháng 6 năm 1972.
Quê hương của loài nai,
Đường 13 chạy từ ngã ba Chơn Thành đến An Lộc đo được 30 cây
số, tiếp tục về hướng Bắc thêm 18 cây số nữa là Lộc Ninh, bên kia biên
giới là Snoul, qua Snoul con đường ngã theo hướng Tây-Bắc để tới Kratié,
nằm cạnh bờ Cửu Long; nép bên bờ trái con sông, đường chạy tiếp về phía
bắc để gặp StungsTeng, vị trí chiến thuật quan trọng của đường giây ông
Hồ từ Bắc vào. Đoạn này có thêm một tên khác, “đường Sihanouk” cho có
vẻ đại đồng nhưng thật ra cũng chỉ là của anh Hồ cộng sản. Khởi đầu cuộc
chiến “Đông Dương lần thứ Hai”, những công thầnđầu tiên của Trung ương
Cục Miền Nam đã lần mò, tìm kiếm, ráp nối lại con đường... Bắt đầu từ
vùng suối Đá, suối Chà Là, suối Ma vùng Bình Long, Phước Long, băng qua
biên giới, đến những “mật khu” trong tương lai sẽ vang danh theo chiều
rộng thế giới: Lưỡi Câu, Mõ Vẹt. Năm 1970, đại quân Miền Nam từ Bình
Long, Tây Ninh, đồng loạt xua quân qua biên giới; cánh quân cực bắc của
lực lượng vượt biên đã có lần đi xa quá Snoul để đến gần Kratié. Cộng
quân tan nát, đổ vỡ toàn thể hạ tầng cơ sở, kho tàng, trọng điểm tiếp
liệu và căn cứ trung ương. Hai năm sau, những ngày đầu 1972, một lực
lượng cộng khác, thứ cộng nguyên gốc, theo một kế hoạch được bảo mật
tinh vi, chuẩn bị yểm trợ cho mục tiêu chính trị, từ miền Bắc xuôi theo
đường 13 vượt qua Snoul cùng ào vào Lộc Ninh với 3 sư đoàn chính qui
thượng thặng, sau khi được giàn đại pháo 130 đã dọn sẵn đường. Sau Lộc
Ninh là An Lộc. Và thị trấn nhỏ bé của miền cực đông-nam Nam bộ, bắt đầu
co vào trong một thế gọi là “tử thủ”. Địa ngục có thật bắt đầu từ ngày
đầu tháng 4-72 ở đây. Nơi An Lộc.
An Lộc không phải là thị trấn, thành phố, thật ra chỉ là thị xã
tỉnh Bình Long, đồng thời cũng là quận lỵ Quận An Lộc, tức Quận Châu
Thành của tỉnh. Tỉnh gồm ba quận, Lộc Ninh cực bắc, An Lộc giữa và Chơn
Thành phía nam. Tất cả cơ sở hành chánh đều nằm trên con đường 13, con
đường lớn phẳng phiu chạy thẳng theo hướng Bắc-Nam, vạch một đường đen
thẫm giữa rừng cao su xanh lá, nổi bật trên màu đất đỏ nâu mịn màng đẹp
đẽ. Đỏ nâu cũng là màu máu khô, đường 13, con số của sự xấu - Định mệnh
đã định rõ: Con lộ mang số tử thần và màu máu thẫm - Hai cuộc chiến
tranh chứng tỏ có một Thượng Đế nhẫn tâm khắc nghiệt đã sắp đặt sẵn điêu
linh cho nơi chốn, lẫn người. An Lộc, tên nghe thuần hậu hiền lành, như
cảnh tượng đàn nai chạy tung tăng trên đồng cỏ tranh mượt sóng. Đàn nai
sống no đủ bình yên, được che chở bởi tàng cao su, rừng bạt ngàn xanh
im bóng nắng và hàng vạn con suối mang đủ các địa danh Việt, Miên,
Thượng... Những giòng suối đầu tiên của sông Bé ở phía đông và sông Sài
Gòn ở phía tây. Bình Long- Quê hương loài nai nằm giữa hai con sông trải
dài trên một bình nguyên bao la,miền Đồng Nai thượng không những chỉ là
một vị thế tốt, còn là chiếc nôi nuôi dưỡng quốc gia với tài nguyên
thiên nhiên phong phú, quý hiếm. Đất rộng mênh mông trải dài chập chùng
đồi thấp đến tận Biên Hòa, Gia Định. Đất giàu đẹp, uy nghi như hãnh diện
bất tận quê hương. Nhưng, đúng là quê hương khốn nạn. Quê hương gắng
chịu tai ương của nhân loại. Quê hương nguy khốn, ngặt nghèo. Quê hương
lửa dậy và Bình Long hừng hực tro bay. Nơi sự sống không còn mặt đất.
Địa ngục trước mặt,
Khi đứng trước An Lộc, dẫu kiễng chân, mở to mắt, tôi cũng chỉ
thấy được một tòa lầu cao, ngói đỏ, con đường hơi ép trái trước khi vào
thành phố, chiếc tăng T54 nằm bên vệ đường, che khuất một phần không
gian. An Lộc cách một khoảng 1700 thước, nhưng sao đã thấy từng cơn rung
trong lòng, đã thấy thái dương giật giật.Đâu phải chiến tranh chỉ có ở
trong đó, nơi tôi đứng, năm mươi sáu xác chết của C7, C8 (đại đội 7, 8)
của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 275, Công Trường 7 đang nằm chật trong các
công sự phòng thủ; nơi đây cũng có hai T54, ba PKR 79 nằm chúi đầu xuống
hố bom, bộ máy bị tan nát vì lựu đạn công phá. Nơi tôi đứng, chỉ mười
lăm phút trước, Đại Đội 62 Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù đã xung phong cú chót bắt
tay với Đại Đội 81 Tiểu Đoàn 8 Nhẩy Dù. Lần bắt tay vinh quang của quân
sử người Việt phương Nam. Nhưng, nơi tôi đứng cũng dậy mùi người chết
gây tanh trong gió...Chiến trường nơi đây cũng đã quá nặng độ, nào cần
vào đến trong kia.Nhưng An Lộc nơi xa 1700 thước ấy lại gây cho tôi cơn
đau đớn giật ngược, người cồn cào nóng rực tưởng như đứng trước một
người thân vừa ngã chết!
- Tôi vào trong đó nghe anh Năm? Tôi hỏi trung tá Đỉnh, tiểu đoàn trưởng 6 Dù.
- Khoan, mai sớm hẵn hay, đợi đi, từ thằng 8 (tiểu đoàn 8) vào
trong kia đâu có yên, nó pháo chết cha mày. Chết lại không có được
“tuyên dương công trạng” nữa,
- Ừ vậy thôi, ngày mai.
Đêm xuống thật nhanh trong rừng, rừng cũng chỉ là chữ để gọi
tên một vùng cây, vì ở đây rừng chỉ còn những thân cây cháy đen tua tủa
dựng lên trời với cành khô không lá. Cây ngổn ngang và rừng điêu tàn.
Bom đánh xuống cháy một xóm nhà vốn là sự thường trong chiến tranh,
nhưng đốt cháy hẳn một cánh rừng bao la thì chỉ có ở Việt Nam. Nơi thiên
nhiên biến dạng bởi lửa đỏ. Tắt lửa, trời tối thẫm, vài viên đạn đại
pháo cầm canh điểm giọt dài từ bắc An Lộc đến cuối nơi đóng quân của
Trung Đoàn 33 Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Lần đầu tiên tôi dự trận chiến “bắn
quấy phá” do pháo của Cộng quân.Ưu thế hỏa lực vùng này không cần phải
xét thêm, địch hơn hẳn ta một chặng đường dài, quá dài không theo kịp.
Trời sáng tôi sửa soạn hành lý để dông. Có tiếng người gọi 64 (Đỉnh) ở
trong máy. Tiểu đoàn trưởng5 Dù ngỏ lời chào mừng Tiểu Đoàn 6,
-Ông bắt tay được với tiểu đoàn 8 là tay cừ,tụi này đợi cả hai tháng, chả có ai nắm được tay mình, mỏi bỏ mẹ...
- Hì... hì, Đỉnh cười thích chí. Hiếu khóa 14, Đỉnh 15 Đà-Lạt,
cùng là dân năm 54 “mang rau muống vào Nam diệt thù”, nay gặp được nhau
giữa rừng chiến trận, câu chuyện vang vang những lời thống khoái... Có
Nam Xương (Danh hiệu truyền tin trước kia của tôi, Nam là tên, Xương
nghĩa là không có... thịt) lên đây với tôi, 55 (Hiếu) có muốn gần nó
không ?
- Đâu đâu, cho tôi nói chuyện với nó một chút, lâu không được nói chuyện với dân civil !!Chắc giọng nó “thơm” lắm.
Tôi cười ngượng ngùng, có một chút xấu hổ làm cứng mặt, đàn anh
của tôi đã nói thật. Nhu cầu được gặp và nói chuyện với người lạ là một
phản ứng thông thường của người lính miệt mài torng rừng rậm. Bao nhiêu
lần tôi cũng đã có cảm giác này.Chui rúc mãi trong rừng sâu, đóng quân ở
nơi hoang dã, khi thấy được một con đường, dù chỉ là loại đường đất
trải đá dẫn đến một làng xóm cũng gây nên cảm giác ấm áp trong lòng -
Cảm giác sống giữa nơi có người, không lẻ loi ... Gặp mặt người, ước
muốn sao nghe quá cay đắng, nhưng chính là một hạnh phúc tội nghiệp mà
chỉ có người lính trong chiến tranh mới cảm thấy.
Tám trăm thước từ tiểu đoàn 6 đến khu vực tiểu đoàn 5 tôi đi
hơn nửa giờ...”Mày đi qua đó thì coi chừng, có hai hướng pháo, một ở
tây-bắc, một ở đông-nam. Nếu ở hướng đông-nam lại thì không sợ, chỉ sợ
hướng tây-bắc, khi nào nghe pháo tới thì đứng xây lưng vào cây cao su
hoặc nhẩy xuống hố”.Đỉnh dặn dò tôi trước khi vào vùng pháo.
- Anh coi thường tôi quá, cũng đã là Đại Đội Trưởng Đại Đội 93 Tiểu Đoàn 9 từ 1965 chứ đâu phải là dân cù lần chưa đánh giặc,
- Tại vì mày đeo cái máy ảnh, tao cứ tưởng mày làm báo thứ thiệt!!
- Báo quái gì, giang hồ chơi vậy thôi, tôi dọt, về viết bài bốc
anh. Rừng không nắng, đất đỏ tung tóe, cây gẫy đổ chắn lối đi, xác Bắc
quân chôn tập thể ngổn ngang gò đống, pháo rời rạc rơi, cứ năm phút từng
cặp một... Tôi cũng nhiều phen tìm hố để ẩn nhưng người làm sao nhanh
hơn đạn, khi đứng được trong hố thì đạn đã chạm nổ rồi!! Mới hơn một năm
đã quên bố hết phản ứng... Chẳng bù năm xưa khi trái đạn đầu tiên vừa
nổ ở vùng phi quân sự, tôi đã ở nguyên con trong hố đào bằng nón sắt!
Mình hết thời lính rồi.Tôi lẩm bẩm nhắm hướng tiểu đoàn 5 đi mặc kệ pháo
rơi trên mặt lộ... Nếu nhỡ mình chết ở đây thì với tư cách gì nhỉ?Dân
cũng không, lính chẳng phải.Không có một điều gì kéo tôi đến đây, không
lẽ để lấy tài liệu làm “tác phẩm”?!!
Mồm ngậm điếu thuốc, tay bỏ túi quần, tay giữ máy ảnh, tôi cũng
lạ với mình trong phút giây “đạt đạo” này. Đời là sự vô thường !! Tôi
luận lung tung trong đầu khi bước chân đi qua vùng rừng được lính Nhẩy
Dù đặt danh hiệu “bãi pháo”. Pháo là pháo kích, đại pháo của Cộng. Hơn
ngàn người dân An Lộc đã chết trên tám trăm thước ngắn này trong những
ngày trước khi họ cố bỏ nơi đỏ lửa để xuôi nam... Gạo xấy, tay nải, nón,
guốc còn lác đác đầy khoảng rừng.Chụp hình được hết những mảnh vụn này
không ? Tôi tự hỏi khi loay hoay điều chỉnh ống kính. Chẳng thấy được
gì, thôi vậy.Tôi xếp máy đi hết quãng đường.
Đến khu đóng quân của tiểu đoàn 5, chẳng có người lính nào trên
mặt đất, pháo đang nổ ngoài đường. Dứt pháo, những cái nón sắt từ từ
nhô lên khỏi nắp hầm, hầm dưới đất, nắp hầm khum khum như những nấm mồ
nhỏ... Cảnh tượng giống như đàn còng gió khi thấy người đi đến vội tụt
xuống cát trên bãi biển. Những người lính vừa nhô lên thấy tôi nhoẻn
miệng cười.
- Báo hả? Có thuốc lá không ?
- Chẳng phải báo beo gì cả! Thuốc lá còn mỗi điếu ở mồm đây, hút không?
- Hút ! Người lính thò tay lấy điếu thuốc không chậm một giây.
Đến hầm ông Hiếu, phải một phút kêu gọi, ông Tiểu Đoàn Trưởng
thâm niên nhất của Nhẩy Dù mới “bò” ra khỏi ổ... À Toa, đợi đấy, moa đãi
toa hộp bia và bánh do bà vợ vừa gởi lên. Tôi cởi áo giáp, máy ảnh,
nhận hộp bia vàng sánh.Như những người lính im lặng chung quanh, tôi
bình thản uống từng hớp bia hạnh phúc. Đến một độ nào đó con người “bão
hòa” với đau đớn, trở thành trơ, mất xúc cảm và vô vi như một kẻ đạt đạo
cao siêu. Tôi chỉ mới qua vài ngày chiến trận, chỉ mới ở vài ngày dưới
vùng “hỏa tập tiên liệu” của địch, đầu cũng đã cứng và lòng phẳng trắng
vô tri.Uống, bia lúc nào cũng ngon và ngọt, thở một hơi thuốc thơm lên
vòm trời âm u.Ầm !Ầm !Lại hai hỏa tiễn, tôi thụt đầu vào lại hầm, hộp
bia sóng sánh trào ra chút bọt nhỏ.Uống thật say đắm, cạn giọt cuối
cùng, biết đâu lát nữa khi vào An Lộc lại bế ngay một quả.
- Lâu quá moa không thấy mặt trời, cao su ở đây còn lá, ngày
lại nhiều pháo kích, ở luôn trong hầm cho tiện.Ra khỏi hầm chẳng làm
được gì, nhỡ có chuyện gì lại thiệt cho đơn vị.Người tiểu đoàn trưởng số
1 đã nói thế, trận chiến này quả thật không còn chỗ để khai sinh anh
hùng. Đánh nhau bằng lưỡi gươm, người làm tướng thuở xưa có cơ hội chứng
tỏ được mưu lược, can đảm và tài nghệ riêng mình.Đánhbằng gươm, lối
đánh mã thượng, quân tử, đánh đối mặt, và chết không ân hận. Chiến tranh
hôm nay với đại pháo xa hàng chục cây số và viên đạn vô tình nổ chụp.
Người thụ động toàn thể dưới vũ khí tàn ác vô nhân. Chiến tranh không
những chỉ hủy diệt đời sống. Chiến tranh còn làm mất giá trị con người.
Mãn thiên hoa vũ,
Vượt hẳn hết ý niệm từ trước, bỏ xa trí tưởng tượng đã xếp đặt,
An Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm, An Lộc vỡ nát, vỡ tan
tành, vỡ vụn...Không còn sự sống trên mặt đất, không còn dấu vết người
trên mặt đất, thành phố chìm dưới hầm, sâu dưới đất, càng sâu càng tốt
như một ổ mối khổng lồ dưới lớp đất bùn bề mặt. Vòng đai thành phố bây
giờ đã nới rộng lên phía Bắc đến gần được sân bay.Những ngày “tử thủ”
đường phòng thủ này rút xuống ngang hoành độ 88, từ đây kéo thẳng đến
cực nam bãi trực thăng B45 đo được 800 thước và bề ngang được 500.Một
diện tích rộng chưa tới cây số vuông đã có lần nhận được 8000 viên đạn
như trong đêm 11 rạng 12 tháng 5; 8000 viên đạn loại xuyên phá chưa kể
hỏa tiễn và cối tung hoành trên mảnh đất chỉ bằng khu vực Đa Kao.Mỗi
thước vuông đất phải nhận hơn 10 trái đạn.Đạn Delay xuyên xuống đất hơn
một thước mới nổ.Không cần phải trúng ngay hầm chỉ cần nổ bên cạnh cũng
đủ xô ngã vách hầm. Dân và lính thụ động co rút dưới hỏa ngục đổ từ trên
trời xuống trong hơn hai tháng. Pháo không phải từng cơn, từng giờ,
từng loạt, pháo đầy trời như mưa, pháo ào ạt như gió, pháo kín mít như
mây. Pháo không vạch từng đường như Mậu Thân, pháo không đi từng luồn
như ở Hạ Lào. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mưa bay giăng giăng che
kín không gian của những ngày xuân mưa bụi. Dưới bầu trời đầy những đóa
hoa tử thần đó. An Lộc co quắp, vật vã, tan thành mảnh, phất phới bay
như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời lộng gió. Một hỏa tiễn nâng
chiếc xe jeep bay bổng, khối sắt nặng 1/4 tấn vừa rơi xuống chạm mặt đất
lại bị thổi ngược lên cao, nhẩy lên một mái hầm như hộp thiếc nhỏ bị
quay cuồng vì những viên đạn tinh quái chính xác trong phim cao bồi Mỹ.
Pháo đầy trời nên sự chết cũng ở khắp nơi, chết lan như cỏ gà,
chết tự nhiên, như sống thì phải chết. Chết ở An Lộc là hiện tượng tất
nhiên. Gia đình bẩy người, hai vợ chồng năm người con cùng trú trong một
cái hầm. Hầm đào dưới nền nhà trên lót vài tấm ván và một lớp bao cát.
Tất cả đo được một thước bề dày. Tội nghiệp, dân đâu biết được cường độ
công phá của đạn 130 ly. Nên, ầm một tiếng ngắn ngủi, cái nắp hầm tội
nghiệp đó tung lên vỡ tan từng mảnh nhỏ như những hạt nước tóe lên khi
hòn đá nặng rơi xuống... Chết! Sáu xác chết được một người còn sống chắp
nhặt, vá víu để xác người mẹ không có tay người con, để thằng anh không
lẫn chân thằng em. Người cha chậm rãi, từ tốn bình thản đi chọn lựa
từng phần thân thể một của mỗi người thân yêu, còn gì trong đầu óc khô
cứng đó. Không còn gì, chẳng nên gọi đó là óc não con người.Người đã
chết. Con người thật đã chết toàn phần ở An Lộc.
Chân dung người giải phóng,
Trên đây là những hình ảnh củanhững “nội” An Lộc, chung quanh
An Lộc từ những ấp cực tây như Phú Bình qua cực đông Phú Hòa, xuống phía
nam như Thanh Bình, Văn Hiến ... Những tên ấp nghe thật hiền, hiền lành
tội nghiệp như ước vọng nhỏ nhoi của người dân khổ ... Dân cạo mủ, dân
làm nhà máy mà hơi nhựa cao su đã thấm đẫm qua lớp da, bao quanh thớ
thịt tại nên một sắc thịt nâu nâu, nhạt nhạt có cảm giác rút cứng nhão
nhoẹt khi chạm phải ... Nhưng những người dân tồi tàn này đã bị kéo ra
khỏi thôn xóm cuối đời - Họ là di dân từ Trung và Bắc vào - chống nạng
bế con, cõng cha mẹ đi dọc đường 13 hướng về Tân Khai, Tần Ô, Lai Khê để
đến Bình Dương, thiên đường yên ổn khốn mạt đang chờ đón, che chở ...
Vì chỉ các Bình Dương trên mười cây số là Lái Thiêu, nơi có lũ người
được mệnh danh là “giới trẻ” đang đu đưa trên những chiếc võng ni lông,
võng cói, đút cho nhau những miếng sầu riêng, chôm chôm bằng động tác
của phim roméo và Julliette, bằng thứ nũng nịu hờn dỗi dưới những tàng
cây xanh im bóng nắng. Cũng dưới những tàng cây như thế này ở Bình Dương
cách đó không đầy mười phút Honda, những người dân An Lộc ngồi chồm hỗm
nhìn ra con đường ngập nắng, hướng về mạn Bắc, nơi quê hương cuối đời
đang đỏ lửaTay vẫn nắm chặt một mẫu vải vụn mà suốt bốn ngày không rời
bỏ ... Mẫu vải mang hơi hám kích thước, biểu tượng cho đời sống, niềm hy
vọng ở quê nhà.
Người dân rời xóm làng để lại nơi chốn cho những người ”giải
phóng.”Họ đi từ Bắc vào, từ Thanh Hóa, Nghệ An xuống Đồng Hới, băng qua
biên giới dọc theo Tchépone, Mường Nông xuôi dần xuống phía Nam, rẽ vào
Kontum hay mặt trận B3 hoặc tiếp tục xuống vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt trước
khi qua lại biên giới để vào Lộc Ninh, cách An Lộc 18 cây số - Hành lang
di chuyển mở rộng không chướng ngại.Họ đến An Lộc từ đầu tháng Tư sau
sáu tháng di chuyển và bắt đầu “được” xích vào cần chân ga thiết giáp,
xích vào cây để bắn máy bay và xích vào cổ người bên cạnh để đi hết lời
nguyền “Sinh Bắc Tử Nam.”Ôi, nhưng đó chỉ là bề ngoài, một bề ngoài giả
dối tội nghiệpđể che chở phần tinh thần đổ nát, tan vỡ trong kinh hoàng,
khiếp đảm.Làm sao không sợ được, vì trong đêm 11 rạng 12 tháng 5, sau
khi được 8000 quả đạn dọn sạch đường, 3 trung đoàn, mỗi trung đoàn quân
số 3 Tiểu đoàn đầy đủ được“tùng thiết” với một đại đội chiến xa thuộc
các trung đoàn 203 và 303 thiết giáp, tưởng sẽ san bằng An Lộc, giết
toàn thể lính Mỹ Ngụy, không để sống một người dân.Mười bẩy “pass” B52,
mỗi “pass” đi qua do 3 phi cơ thực hiện với 42 quả bom 500 ký, 24 quả
bom 250 ký. 17 pass bom sát nách An Lộc 600 thước, chiếc hầm béton của
Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn I Dù “di chuyển” theo cơn rung của bom. Bom chiến
lược, với nguyên tắc chỉ thả cách quân bạn khi có khoảng cách an toàn từ
hai cây số trở lên. Cuộc đánh bom phải do chính Trung Tướng James
Hollingswoorth của Vùng III điều khiển. Và chỉ một “pass” bom ở Trãng
Bàng cũng đủ làm cho thành phố Sài Gòn chuyển động, cách nơi đánh bom 30
cây số đường chim bay!Con người nào chịu nổi 17 pass bom đi trên đầu,
bao chung quanh không phải từng lớp nhưng từng chồng, từng tảng âm thanh
mà cường độ nằm ngoài sức tưởng tượng... Sợ, phải sợ, dù người có được
đúc bằng thép, thép cũng chảy, người có uống thuốc liều, thuốc cũng phải
tan, Marx, Lénine, Hồ Chủ Tịch, Võ Đại tướng chẳng còn là cái quái gì
trong khối không gian điên đảo tàn khốc đó - Sợ, nên dù có bưng bít, che
dấu trong lá thư gởi về gia đình ở Nghệ An, Nguyễn Đình Nghiêm, ám danh
quân số và đơn vị là HT 810042 SZ 7, sau một thời khuyên nhủ gia đình
“công tác tốt để đạt được tiêu chuẩn... Em Ba hãy gắng học tập để tiến
bộ đúng sự hướng dẫn của Đảng...” Cuối thư không thể cầm lòng được,
Nghiêm viết thẳng: “Điều kiện chiến trường rất gian khổ, vô cùng khó
khăn, thư có khi 2, 3 năm không viết được, nên gia đình cha mẹ chớ trông
thư con”.Viết thế nào được dưới 17 pass B52 đó? Viết thế nào được dưới
AC 130 Spector bằng Ra-đaba quả 105 ly một?! Không viết thư được là
chuyện bắt buộc. Không thể sống được là điều tất nhiên. Làm sao có thể
sống được hở người Cộng Sản? Làm sao để sống và chiến thắng hở ông Võ
Nguyên Giáp - “Thiên tài ngu muội” của lịch sử dân tộc. Lỗi lầm này mấy
biển rửa cho tan. Oán hờn chồng chồng cao ngất.
Ở đây, mặt trận với tàn khốc ngập trời, hậu phương lớn ngoài
Bắc thì được “bồi dưỡng” với hạnh phúc,“Tết này em sẽ mua về cho mạ 1, 5
cân đường, hợp tác xã ủy nhiệm cho gia đình người đi nghĩa vụ quân sự
số lượng đường với tiêu chuẩn đó.Mạ có nói đem bột, trứng qua bên này,
nhưng như vậy thì tốn quá... Em sẽ làm 50 cái bánh và một gói chè và mạ
đã nhất trí ...” Trời đất hỡi, còn tội nghiệp nào nữa hả trời, ba năm đi
làm giải phóng được “hỗn hợp vui vẻ” bằng phần thưởng 1, 5 cân
đường!!Anh “giải phóng” cho ai và để làm gì hở anh Nguyễn Văn Hưu (số
quân, đơn vị 271003TB004)?! Anh giải phóng đồng bào miền Nam để “nhất
trí tiến bộ xã hội” với 1, 5 cân đường sao anh?!
Trước An Lộc, không có một luận lý nào có thể tồn tại được, chỉ
còn tiếng thở dài bi thiết để nén khối đau ra lồng ngực và chớp mi mắt
mọng cay tưởng rơi giọt nước vô hình. Nhưng, khóc cũng không nổi.
Chiến trường lộ mặt,
An Lộc tàn khốc, nhưng đối với quân dân Miền Nam, sự tàn khốc
này mang một nét bi tráng, hào hùng. Đây là khối lửa nung đốt và tôi
chín người. An Lộc bi thương - Bi thương ấy thúc giục con người cố đạp
đổ định mệnh, vượt khỏi định mệnh tàn ác để tồn tại, tồn tại trong tự do
chỉ riêng một lần trong đời cảm thấy khi từ bỏ tài sản cuối đời băng
mình đi dưới trời đại pháo. Chỉ vì muốn sống tự do người dân An Lộc mới
bất chấp tất cả, mới vượt qua tất cả, đi trên cái chết, trong cái chết
để thể hiện ý hướng trừu tượng mà suốt đời dài không một lần lý luận. An
Lộc dũng cảm kiên cường đứng vững chắc trên điêu tàn, vĩ đại như ánh
lửa soi đường cho cả dân tộc. để lịch sử mãi ghi nhớ, lòng người hằn in
sâu. An Lộc, cây cổ thụ quê hương còn lại sau cơn Đại Hồng Thủy máu lửa.
Người Miền Nam nhìn An Lộc như tấm gương soi rõ chân dung bình lặng cao
cả của mình.
Và chiến trường này cũng có đủ mặt trái của nó. Đó là một chiến
trường phi nhân, vô lý và tuyệt vọng. Chiến trường hư không. Chiến
trường chết, mồ chôn ảo vọng và bạo ngược. Người cộng sản hứng hết mặt
trái khốc liệt này.
Bỏ đi những sự kiện chiến thuật như Bắc quân đã có đủ ưu thế
chiến trường, gần hậu cần, hành lang chuyển quân rộng rãi, dễ di chuyển,
ngụy trang tốt, tiếp vận, tiếp liệu đầy đủ và nhất là được yểm trợ bởi
một hỏa lực khủng khiếp, một hỏa lực vượt hẳn mọi hỏa lực bộ binh dã sử
dụng của quân sử thế giới. So với Mậu Thân, Hạ Lào, chiến trường
Trị-Thiên, Kontum... An Lộc vượt quá xa về hỏa lực. Không có một trận
địa pháo nào dồn dập và nặng nề như trên chiến trường nhỏ bé An Lộc. Sẽ
không bao giờ có nữa, chắc chắn như thế. Nhưng dù đã có được hết ưu thế
chiến thuật, ba công trường 5, 7, 9, được tăng cường hai trung đoàn
chiến xa 202 và 203, cộng quân vẫn không “dứt điểm” An Lộc. Mặc dù cho
đến hôm nay khi viết những chữ này (20-6-72), địch vẫn còn hoạt động
mạnh tại Tầu Ô, Đức Vinh và An Lộc còn nằm trong vùng hỏa tập tiên liệu
của hai hướng pháo Tây-Bắc, Đông-Nam. Nhưng mục tiêu chiến thuật (nhấn
mạnh nghĩa chiến thuật) của chiến dịch đã bị gãy đổ. Hoàn toàn gẫy đổ.
Nhưng, mặt trái chiến trường cũng không phải ở lần thất bại
quân sự này. Mặt trái chính là lần tan vỡ “huyền thoại không tưởng” về
bộ binh Bắc Việt. Bởi nơi đây đã minh chứng, không hề trên mặt trận lại
có một loại lính năng lực tác chiến xuống thấp đến thế. Khả năng tác
chiến kém có thể do vì thiếu huấn luyện, thực tập, chưa đủ kinh nghiệm
trận địa... Nhưng ở đây, yếu tố chính để kết nên căn bản cho toàn bộ yếu
kém này là tinh thần Bắc quân: Khối hư không thất vọng và chán nản cao
độ. Ở mặt trận Trị-Thiên, binh sĩ Bắc Việt khi vượt sông Bến Hải tràn
xuống Đông Hà, Quảng Trị dù sao vẫn còn mang được tâm lý Đánh trên quê
hương, nơi đất nhà, vùng thổ ngơi còn dính líu với Miền Bắc. Họ lại được
thúc đẩy thêm “ý niệm đi giải phóng, chiếm đóng” cộng sự hận thù đối
với dân chúng Miền Nam, nhất là dân cư ở các thị trấn, thành phố. Tâm lý
này còn nguyên cường độ nên khi vào Quảng Trị, toán lính Bắc quân vẫn
giữ được tính chất cực đoan, cường bạo để thúc dục tinh thần và nâng cao
khả năng tác chiến - Khả năng giết dân và quân dân Miền Nam.Ở chiến
trường Kontum, tuy trải qua một chặng đường dài di chuyển, lại chiến đấu
trong hoàn cảnh khó khăn, tinh thần Bắc quân vẫn chưa hẳn hoàn toàn tan
vỡ vì các trận đánh ở dãy cao độ Delta, Charlie, Hotel phía tây Quốc Lộ
14, ở đèo Chu Pao không có sự hiện diện của dân. Đánh trong rừng, người
lính khai triển tối đa khả năng chém giết, không bị ghê tay bởi những
cảm giác ân hận, lỡ lầm. Nhưng ở An Lộc thì khác hẳn, Bắc quân từ mật
khu bôn tập về mục tiêu màdân nhiều hơn lính- Dân dáo dác, sợ hãi, trốn
lánh và chết thảm... Lòng người nào trong cuối đáy không thoáng ân hận
khi chính tay mình hạ sát kẻ tay không?! Thêm vào đấy, các công trường
5, 7, 9 chỉ là chỉ danh của các sư đoàn “mặt trận” có cán bộ và lính
người Nam xen kẽ cùng những người từ phương Bắc đến. So sánh đã xẩy ra,
chuyện trò sẽ tỏ rõ, lính Bắc nhận được chân dung đích thực của mình,
biết rõ hành động phi lý khi rời bỏ quê hương từ một chốn mịt mùng để
dấn thân vào cuộc chiến tuyệt vọng.Tuổi 15, 16, 17 rất dễ bị kích thích
nhưng cũng mau mắn ngã lòng - Số tuổi trung trực, nhạy cảm và thơ ngây.
Lính Bắc ở mặt trận này bị phá vỡ toàn diện hệ thống tinh thần vì chiến
trường lộ mặt: Hàng ngày dân chúng vượt qua “bãi pháo” qua Xa Trạch, Tầu
Ô... vượt nỗi chết để chạy về phía lính Cộng Hoà... Tất cả thực tế nầy
như cánh tay nghiêng ly nước lã đầy. Lính Bắc vỡ mặt, thấy mình kẹt
trong chiến trường phi nghĩa, vô nhân đạo. Nhưng quả muộn màn vì cổ đã
bị xiềng vào đồng đội... Giờ báo tử cho bộ binh Bắc Việt đã điểm.
Thư của người tình hư vô,
Di chuyển trong 6 tháng với cơm khô muối hột, dự trận chiến vô
vọng, lại có thêm hoàn cảnh để so sánh. Người dân miền Nam và miền Bắc.
Có thư viết về Bắc thú nhận : “Vấn đề bồi dưỡng tại chiến trường lúc này
đã tiến bộ, không còn thiếu thốn như ở thời gian di chuyển (từ Bắc vào)
nữa.”Được ăn ngon, thấy rõ dân tình, trạnh nhớ đến gia đình nơi xa
thiếu thốn, đường về không còn lối, lòng người lính Bắc trẻ tuổi trùng
hẳn xuống đến độ thấp nhất, trong cơn ngất ngư lại được “bồi dưỡng” thêm
bởi những giòng thư thương nhớ, cái nhớ trùng điệp như Trường Sơn, mịt
mù như rừng thẳm, nhớ tha thiết, nhớ giỏ máu, cắt da ... Nhớ và cảm thấy
được hết nỗi tuyệt vọng của cuộc tình chia cách. Sức mạnh nào để cầm
cây súng, trái tim nào còn đập theo nhịp căm hờn. Người lính Bắc hay gã
lính xâm lược ngụy danh cay đắng trong chiến trường lộ mặt, “Áp lá thư
em vào ngực anh đọc đã mấy chục lần ...”.Người tình hư không đã viết vào
nhật ký để trả lời cho bức thư tha thiết.Thư của Người - gởi -
Người.Người yêu dấu không bao giờ gặp lại. Những bức thư có những nội
dung như sau :
Anh Hưu thương :
Thế nào, hai Chủ nhật trôi qua có nhớ lắm không ?Có thể nói từ
khi anh và em cùng nhau bắttayxây dựng vợ chồng thì hai Chủ nhật này là
hai Chủ nhật khó khăn và nặng nề vượt qua lắm anh hè. Em biết lắm rồi,
trong những giờ phút đó anh muốn thét lên thật to để làm sao ôm lại
những lời nói của anh, rồi cùng anh nói chuyện, em cũng biết lắm những
bước chân đi trong những giờ phút đó nó như một con người không có tri
giác mà những bước 9di đó không hề biết đến, không hề nhớ đến, đầu óc sẽ
triền miên suy nghĩ, những cái gọi là kỷ niệm ở đời sẽ hiện ra và bắt
đầu như diễn kịch trước mắt.Thật đúng tâm trạng của anh lúc đó em sẽ
đoán được, vì sao em lại biết tài như thế ?Vì em đã nằm giữa trái tim
anh, dòng máu của anh đã cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù sao,
dù ở phương trời nào em đều đoán được.
Thế nào rồi đó, chân sưng to không bằng cái “cột đình” chưa
?Vai đã lột những lớp da bên ngoài gọi là “hồng hào” chưa ?Có đau lắm
không anh ?Có hỏi họ để tìm lá dầu ngoại khoa mà bóp chưa, nhức lắm anh
hè.Anh Hưu ơi, em biết đi đường vất vả lắm rồi đó, ăn uống khô khan như
vậy có mua gì cải thiện đến không ?Trân đường đi có xẩy ra đau ốm gì
không ?Nghĩ đến đó em tê buốt cả người, càng thêm nhớ nhung suy nghĩ, có
sinh racái mụt nào để làm thêm đau đớn bản thân không ?Vì mùa này là
mùa mụt của “đồng chí” đấy phải không Thủ trưởng.Hai chữ Thủ trưởng nói
cho vui vậy thôi, chứ không phải em mơ ước như vậy đâu nhé.Thật ra tâm
trạng của em chỉ mơ ước rằng sao cho ba năm nghĩa vụ xong anh được an
toàn cùng về với em, em muốn nhắm mắt làm sao thời gian sẽ trôi nhanh đi
và nhanh đi nữa để anh và em được về sống trong một ngôi nhà nhỏ hẹp,
để cùng nahu vượt qua khó khăn, cùng nhau hưởng những hạnh phúc đẹp
đẽ.Những hạnh phúc đẹp đẽ, những cái đó em nuôi một mơ ước, một mộng
đẹp, chứa đựng nó trong một khối óc, trái tim đầy tìnhchung thủy của
tình nghĩa vợ chồng đã nhen nhúm từ lúc đầu.anh ơi, xa anh đi, em nhớ
lắm, em thương anh lắm, anh nói, anh cười, anh trìu mến thương, em làm
sao quên được.Có ai hiểu thấu tâm trạng của em trong những lúc nhìn vật
của anh, từ nét chữ anh viết cho em, rồi đến cái nhìn nữa ... Chao ơi em
muốn bấu lấy mà nhìn, nhìn mãi, nhìn vui nào cho chán được.Anh Hưu ạ,
nói mãi cũng không hết nhớ nhung của em lúc này đối với anh, thôi em nói
chuyện khác anh nhé ...
Trên đây là hai trang đầu tiên của chị Nguyễn Thị Hàng, giáo
viên ở Nghệ An viết gởi anh Lê Văn Hưu địa chỉ là : 271003 TB 04, thuộc
cánh quân của trung Đoàn 124 phối hợp với Đại Đội1/117 Trung Đoàn 203
Thiết Giáp, không biết rõ anh ở đơn vị nào ... Thư viết bốn trang, tôi
ghi lại hai trang đầu không sửa một nét, không thêm một dấu ... Đầu năng
và tay run khi viết lại những hàng chữ trên, người yêu Lê Văn Hưu của
Nguyễn Thị Hàng đã chết, chết ngay tại trận đầu tiên sau sáu tháng vượt
Trường Sơn vào Nam giải phóng.Người yêu đấu đó đã chết, làm gì còn “ba
năm nghĩa vụ quân sự chấm dứt để anh về với em” hở chị Hàng ? Tình yêu,
nỗi lo lắng của chị chỉ còn vang động trên hư không, người yêu dấu rất
thương của chị không phải chỉ bị nổi mụt, sưng chân, trầy vai, cảm
sốt.Anh Hưu đã bị chết bởi đạn, bởi bom, chết hai lần, ba lượt, chết
cháy, chết tan hoang, tiêu tán và tàn khốc.Không phải lỗi của chúng tôi
chị Hàng ạ, chúng tôi phải tự vệ để sống còn, cũng không phải của anh
Hưu, anh ấy cũng muốn ở lại bên chị để được “cười rúc rích với nhau dưới
lớp tơi lá,” để được ăn ngô vì “vườn ngô trước nhà đã được mùa,” để
được ăn cá và bánh do chị và mạ làm ... Anh Hưu không muốn qua đèo Mụ
Già, không muốn qua Tchepone, Lao Bảo, anh muốn ở cùng chị để tay nắm
tay và “máu cùng chảy với nhau..”Tội này là tội của chúng nó - Lũ đồ tể
tay không dính máu, hồn cứng ngắt bởi quyền thế và danh vọng.Lũ chúng nó
say thứ nặng nhất trong tất cả mọi nỗi đam mê - Chúng nó say danh, say
tiếng - Trời hỡi, chút tiếng tăm vang động trên năm châu, trên trăm ngàn
tờ báo của mọi nơi đã làm con người biến dạng thành quỷ quá dễ dàng thế
sao ?Lũ ngạ quỷ trầm luân mang danh người và chiêu bài cách mạng giải
phóng.Chính chúng nó, thứ thiên tài chết ngập đầy oan khiên ... Chị Hàng
thân mến, tôi người miền Nam không biết được chị, nhưng tôi cũng có một
người yêu, một người vợ lo lắng đón chờ mỗi lần tôi bước ra đi ... Tôi
đi ngắn, chỉ qua vài trăm cây số và về lại trong bình yên, anh Hưu đi
đường xa vạn dặm, chuyến đi vào mịt mùng, vào tan vỡ ... Anh Hưu không
thể trở về, không bao giờ trở về được ... Gởi lời chào đau đớn đến chị,
người đàn bà chờ đợi người chồng bộ đội không hề trở về - chị Nguyễn Thị
Hàng, ở ngoài Bắc, một vùng đất khổ quê hương tôi.
4. Trị-Thiên,
Đất vinh danh cho người,
..Nếu được hành quân tái chiếm Quảng Trị tôi sẽ cúng một con
heo. Một người lính Sư Đoàn 1 đã nói như thế.Không phải câu nói chơi,
phút bốc đồng nhưng là tình cảm mãnh liệt tha thiết được diễn đạt bằng
ngôn ngữ giản dị, chơn chất.Giữa đất và người không còn biên giới, người
lính không nhìn các địa danh : Cam Lộ, Hương Hóa, Trị Bưu, Phong Điền,
An Lỗ như những mục tiêu quân sự, chốn không hồn mà nhiệm vụ bắt buộc
phải đi đến trong một thời gian và sau đó đợi chờ từng ngày qua để trút
đi dửng dưng lạnh nhạt.Đất và người gắn bó không giải thích được bằng lý
luận, chỉ cảm thấy bàng bạc mơ hồ, chứng nghiệm bởi một trực giác ngây
ngất ... Và không riêng cho người lính sanh trưởng vùng Thừa Thiên,
quảng trị.Những người khác, những sĩ quan, trung sĩ, binh nhì sinh
trưởng ở Bắc, Nam thuộc các đơn vị tổng trừ bị, hành quân tăng phái đến,
bước chân đến vùng địa đầu đất nước lòng bổng nhiên chùng xuống trong
xúc động lạ lùng ... Nhiệm vụ hành quân không được nhìn thuần túy như
một công tác quân sự có tính cách bắt buộc, hành quân vùng Thừa Thiên,
Quảng Trị âm vang mênh mông, tính chất cuộc viễn chinh thánh chiến, đấu
tranh giữ đất, giữ nước, đấu tranh cho một lẽ sống còn.Chiến đấu ở miền
giới tuyến hào hùng như bước chân qua một bờ lịch sử.Tương lai dân tộc
được quyết định qua vùng đất này.
Đây không phải là một cảm xúc quá độ được tăng thêm cường lực
để làm dáng trong văn hương nhưng đã đi lính, đội nón sắt, mặc áo giáp,
nhảy trực thăng xuống Khe sanh đổ quân trên các mỏm Động Thông, Động
Gió, đã di chuyển theo giòng Tam Giang, qua Túy Vân lúc sương còn mờ
trên đầm Thủy Tú hay ngược phía Bắc để đi vào vùng Phong Điền, Đại Lộc,
Phá giăng giăng mưa bụi, trăng non soi ánh sáng bạc thếch, ánh sáng chết
trên mặt nước lăn lăn sóng nhỏ, thôn xóm xa lặng trong bóng tối, nghe
trong lòng cơn ào ạt xúc cảm, thấy rộn rã từng ạt rung động trên làn da -
Đất linh thiêng, huyền bí bao trùm vây bọc, con người trong đó thấy tan
biến, hòa hợp vào cùng từng ngọn cỏ, cơn gió, người thấy đau, đau rõ
ràng như nhức buốt như vạch xanh của sông Bến Hải vạch đường độc địa
trên bờ cát thênh thang - Đất và người cùng đau với vết thương quê
hương.
Cảm giác trên đã thành hình, đã gây nên phản ứng sinh lý làm
dựng sợi lông tay cảm xúc nhưng có thể không được phân tích, không được
rọi nhìn, định lượng, người lính “thấy” ràng buộc, thấy mơ hồ, lãng đãng
nhưng chắc chắn, cần thiết như không khí hít vào trong mỗi cử động.
Trị-Thiên, ngoài đất còn có người, người Huế, người Quảng Trị,
người ăn cơm ghé sắn, người uống nước “chè” nấu bằng lá ổi, người gọi
lính bằng “anh cộng hòa ơi ...” Những người đã mừng rỡ đến ngất xỉu sau
mười, mười lăm ngày dưới hầm sâu, nhịn đói nhịn khát, đại tiện, tiểu
tiện và ngủ trên cùng chiếc chiếu như trong mùa xuân Mậu Thân khi nghe
ngoài đường phố tiếng lách cách của báng súng đập vào đùi khi người lính
di chuyển. Lính Cộng Hòa tới! Lính Cộng Hòa tới!Người dân hé cửa nhìn:
Trên đường phố vắng, hai hàng lính đi song song ở lề đường, đội hình, y
phục hoa của Biệt Động Quân hay Thủy Quân Lục Chiến ... Lính Cộng Hòa bà
con ơi !!Sống rồi bà con ơi !! Ông già, ngườitrẻ, công chức, cảnh sát
mở toang cửa ào ra đường... Mừng quá mấy anh ơi, mừng quá !!Mấy anh ở
đây luôn hả ??Uống nước không?Những người lính từ miền Nam ra bị vây kín
bởi một nồng nhiệt bốc lửa.Họ là điểm sống cho thành phố Huế đã đến đáy
hấp hối và tuyệt vọng.Còn vinh quang đẹp đẽ nào cho bằng tiếng kêu mừng
rỡ của người dân Huế trong mùa xuân đỏ lửa khi được sống gởi đến những
người lính xa lạ phong trần.
Đấy là những sự kiện của mùa xuân năm xưa. Bây giờ, tháng thứ
ba của ngày Bắc quân mở cuộc đại tấn công và Miền Nam, Quảng Trị, Thừa
Thiên, hai thành phố đầu tiên hứng chịu tai ương tàn khốc của bom đạn và
người dân của hai thành phố này lại thêm một lần tay bế con, lưng cõng
cha mẹ già xuôi theo Đường Số I dưới che chở độc nhất hay niềm tin cuối
cùng - Người lính- Bộ đội cộng hòa ơi, cứu bà con, bộ đội cộng hòa ơi!
Trên đoạn đường máu Quảng Trị, Hải Lăng, Mỹ Chánh không phải một người,
nhưng toàn khối dân bi thương nguy biến cùng gọi lên như thế một lần.
Gọi bằng hơi thở cuối, mồm há hốc, mắt trợn đứng, gọi khi máu chảy, khi
nằm xuốngtan vỡ, tay lần trên chuỗi Thánh Giá, mắt nhắm nghiền, trên
đầu, chung quanh đại pháo Bắc quân nổ liên hồi, nổ tàn ác... Đạn nổ
không bỏ sót một phần đất, không quên một thân người ... Bộ đội Cộng Hòa
ơi !Người dân lại một lần kêu to lên như thế. Vinh quang biết mấy cho
người lính Việt Nam.
Đất không Vinh Quang riêng cho Lính, đất còn là Thánh Địa cho
Người. Người tầm thường, người còm cõi, người quắt queo khô héo như
nhánh “nè” (1) khô rốc tong teo, lay động dật dờ dưới cơn nắng hạ chí.
Nhưng những người tội nghiệp, tàn tệ, răng đen, môi nẻ tóc rối, người mà
tai ương đã hiển hiện lên giọng nói, bất hạnh đã đặt mầm ở tiếng “khóc
kể” bi ai hờn oán. Bất hạnh cũng đã có “điềm” ở giọng hò thê thiết đến
rợn da khi những con thuyền chập chùng trong bóng tối lướt thướt trên
sóng qua Bảng Lảng, Ngô Xá, La Vân, La Chữ, Vân Trình.a ... ơ ... chỉ
hai tiếng nhỏ con thuyền đi hết khúc sông mà âm thanh còn lộng trong gió
... Đã có “điềm” rồi nên dân Trị Thiên dù không cơm, không gia, không
nương, rẫy bái vẫn tồn tại và sống còn.Họ sống bằng gì và như thế nào
?Chuyển hết tháng ngày đi quakhông cũng đủ là một việc vĩ đại ... Rất vĩ
đại ... Rồi ba tháng máu lửa này, chui dưới hầm, ăn khoai sống, hứng
chịu ngàn trái đạn của hai bên ... Ngày Hải Lăng vừa được quân ta tái
chiếm, đồ đạc cho vào thúng sau, thằng con ngồi thúng trước, người đàn
bà nhỏ quắt queo gánh “gánh đời” đi thoăn thoắt trên mặt cát trắng bầy
nhầy lớp thịt người ... Người trị Thiên có “tài” đi nhanh nhưthế đã bao
năm ??Có anh phóng viên đài truyền hình chận hỏi :
- Chồng và mấy đứa con lớn đâu ?
- Chết hết rồi ... Họ đem đi băm, vằm, chém nát, chôn sấp dập ngửa mô không biết !!!
- Bây giờ bà đi đâu ?
- Hí ? Người đàn bà nhà quê không hiểu câu hỏi.
Cho dù hiểu đi nữa thì bà ta cũng không biết đi đâu ... Quo
vadis ? Mày đi đâu ? Chúa có hỏi đi chăng nữa người cũng không trả lời
được ... Đi đâu? Ngày đã hết, đời đã hết, chỉ còn mỗi con người lừng
lững cùng nỗi đau đớn mịt mùng hư không
Về quê hương điêu tàn,
Phi cơ đến Huế lúc một giờ sáng tắt đèn từ trên cao khi lấy
hướng đáp, thấp xuống, thấp xuống chút nữa, trên một độ cao cần thiết,
đèn ở cánh được bật cháy, chúi xuống và bánh chạm đất, đèn lại tắt.Không
một phi trường nào im lặng và tăm tối bằng.Phòng tối, ngổn ngang lính
nằm, những người lính tóc rối và râu rậm, họ ngủ mệt nhọc và trăn trở,
giấc ngủ đứt khoảng khi có tiếng động của bước chân đi đến dù tiếng động
cực nhỏ, những đôi mắt đỏ hoe mở ra xong khép lại.Gần trăm con người
không ngủ, họ chỉ nhắm mắt và nằm ... Ngủ, hình như họ đánh mất sự nghỉ
ngơi này, mất đã lâu, từ hơn hai tháng trên các căn cứ võ Định, Diên
Bình dọc quốc lộ 14.Ngủ chỉ là trạng thái chập chờn của đôi mắt khép lại
nhưng tai lắng nghe ... Nghe tiếng nổ hoặc tiếng départ của pháo nơi xa
...
Chẳng có vẻ gì để gọi là chiến tranh loạn lạc và điêu linh nơi
chúng tôi đang đứng trong buổi sáng đầy nắng vàng và gió từ sông mang
hơi nước dịu nhạt bay đến.Xóm Mỹ Chánh đổ nát vì vụ dội bom lầm hôm mồng
5 khúat sau rặng tre, chiếc cầu gỗ cháy từ bao ngày trước còn bốc khói,
nhịp cầu sắt bị đổ xuống không đủ cường độ để gợi lên không khí bi thảm
của trận chiến vừa xẩy ra cách đây mười ngày trên con đường nhựa bên
kia sông, nơi bãi cát đìu hiu lặng đứng những khóm tre còm cọi ... Những
tang thương trầm thống của những ngày qua tan byến trong ánh nắng đẹp
đẽ vàng rực của buổi sớm mai này.có tiếng chim cu gáy ở bên kia sông,
tiếng chim mộc mạc ấm áp như giọng cười khúc khích của đứa trẻ.
- Đấy, toa thấy cái lũy tre ở đầu con sông nơi chỗ quanh của
con sông không? Liễn chỉ tay về hướng đông, nơi con sông quanh một vòng
thật đẹp để đổ vào phá Tam Giang.
- Ờ, tôi thấy rồi, chỗ đó tôi đã đóng quân.Làng nội tôi đấy,
làng Vân Trình, tên nghe hay không, mỗi vụ hè tôi về đây chơi, năm mười
tuổi đã lội qua sông này được ... Hai mươi năm sau cho bạc triệu tôi
cũng không qua được bên kia một mình.
- Ừ.Tôi lơ đãng nhìn theo con sông, nơi này mùa đông xưa tôi
đứng trên bờ đợi Mễ cởi áo bơi qua sông mua rượu, phía trái nơi xa có
bãi đất bồi thửa ruộng, bắp lên những lá xanh ngắt ...
- Người miền Trung cực quá, không đủ đất trồng lúa, có chút đất
bồi là bám vào ngayBa mươi cây số từ núi ra biển không có chút đất màu,
toàn cát và cát, cằn cỗi xám xịt không như cát vùng Nha Trang, Cam
Ranh.
Súng nổ sát bờ sông, súng nhỏ, Bộ Binh Bắc quân mở đường, đánh
thăm dò ... Chúng trở về nơi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, Phúa đang báo cáo với
Lữ Đoàn.
- Đó là tiền phương bộ binh của tụi nó xuống quan sát mình,
chẳng hiểu nó bắn súng cối và 57 như vậy để làm gì ?C ... Mày gọi pháo
binh làm mười tràng vào nơi yếu tố mà toán viễn thám ghi nhận tiếng
départ.Phúc nói với Tiền, sĩ quan ban 3.
Pháo từ Phong Điền rơi lên ào ạt.Bắc quân ngưng tác xạ, họ
xuống hầm hay đã bị chết, không biết được, những đám bụi do đạn nổ bốc
lên tan đi thật nhanh, chỉ còn luồng khói đen cuồng cuộn bốc cao.Một
ngôi nhà bị cháy.Có tiếng gắt của anh Phúc : “ Tụi nó đặt súng ở đấy thì
xin bắn ở đấy, làm sao biết viễn thám đêm vừa rồi có ngửi đúng hay
không ?Tiên sư có vợ, bị cặm sừng cũng đếch biết nữa là ...” Anh ném cái
ống liên hợp vào một góc nhà tụt xuống hầm chỉ huy xỏ chân vào đôi dép
đi vào nhà thờ ...
Đường về, trời nắng gió im buổi trưa mùa hè miền Trung bốc cháy
toàn thể cảnh vật, núi im lìm rung rinh sau lớp hơi đá mờ nhạt, người
lính bị thương ngồi băng sau gác bàn chân sưng đỏ máu đẫm ướt cuộn băng
bày.Qua Phong Điền, xe bị kẹt, ngừng lại dưới tàng cây nhìn Pháo binh
TQLC di chuyển cho cuộc hành quân đang khai diễn. Họ nhìn tôi tò mò, áo
lính Nhẩy Dù đi xe TQLC, tóc dài và chiếc máy ảnh ở ngực ... Tôi trông
chẳng giống ai !Tôi cũng biết thế nên lúng túng đưa máy hình lên chụp
loạn xạ.Ôi tôi hành nghề báo.Có một điều gì buồn buồn trong thân.
Mỹ Chánh không có gì, quả thật vậy, tôi về Sài Gòn, thay lớp áo
quần dơ và ướt, uống ly rượu có đá lạnh, chạnh nhớ những người bạn ở
nơi xa đang ao ước một tờ báo, dù tờ báo đã cũtừ ngày 30 tháng Tư ...
Điều này làm lòng tan vỡ, những người sống trên khổ nhọc miệt mài, trong
núi xanh, trên cồn cát, những “sinh vật” lính quen thuộc và thân ái bị
quay cuồng níu kéo hoài vào gian nguy triền miên ... Không phải chỉ có ở
Mỹ Chánh với Trâu Điên, nhưng khắp cùng đất nước, từ núi cao xuống đồng
bằng, có đủ trên mỗi phần đất của quê hương.Mỹ Chánh không có gì ngoài
hai xác chết bên kia sông cạnh chiếc xe tăng bị cháy, tiếng nổ B52ầm
vang đều đặn và núi rung rinh, cây cầu bốc khói xám. Những người và cảnh
chết này có nổi yên nghỉ riêng, lòng có xốn xang là hình ảnh người lính
mang dép Nhật, chống cây gậy đi trên thôn xóm tan vỡ, người lính không
đầy 20 tuổi ... Em bị thương !Chỉ còn tiếng nói và hình ảnh đó đè nặng ở
đỉnh đầu, tay tôi run và nặng khi viết những dòng chữ vô nghĩa này.
Quả bom chiến lược hay viên đạn súng colt chỉ gây một tiếng nổ,
cũng chỉ viết thành “một chữ” trên trang giấy, nhưng trầm thống của con
người thì mênh mông.Chữ nghĩa vô tri viết được mấy cho vừa.
Huế còn thở,
Huế sống, chắc chắn như thế.Sống vì trong lòng Huế có những
kháng tố âm thầm lặng lẽ, những phản ứng kín đáo mang sức mạnh sinh tồn
của con người khi bị ép đến cuối chân tường, đưa đôi tay tuyệt vọng lên
đầu, đánh đòn quyết tử để vượt qua biên giới giữa chết và sống.Huế sống,
dù mệt mỏi, tàn tạ đau đớn, tất cả phải được vượt qua, qua hết để gánh
chịu nỗi kiêu hãnh ngậm ngùi của một dân tộc tồn tại sau hằng hằng điêu
linh.Huế phải sống vì số kiếp bi tráng thê thảm đó.quê hương tôi không
chết được ... Huế còn thở.
Quê hương, nghe như lời mai mỉa, như tiếng cười khủng khỉnh
lạnh nhạt.Quê hương đó và tôi xa lạ, lạ từ đường tóc giòng máu, lạ ở
tiếng nói cách cười, xa lạ hoàn toàn trong lối sống và nhìn đời.Nơi chốn
đó với tôi có mộtcách xa không bù trừ được.Nhưng tôi phải nhớ đến Huế,
phải nghĩ đến, phải đau đớn bồi hồi khi đi lại trên những con đường vắng
bóng người, không phải sự vắng vẻ yên tĩnh của hàng cây xanh lá vang
động tiếng ve.Sự yên tĩnh ỡ đây nín lặng và đau đớn như ngôi nhà đóng
cửa với tấm bảng “Nhà đang có chủ ở.”Giòng chữ không làm nóng không
gian, chỉ tăng thêm sự run rẩy lo sợ thiếu hơi ấm của người.Tôi đến Huế
vào ngày Huế vừa hé cửa như con voi già mở đôi mắt nhỏ từ đồi cao nhìn
xuống đám rừng xưa nơi phần mộ của giòng giống nó.Con voi chưa chết
được, Huế vẫn thế, Huế chưa đi hết đời của mình, Huế đang sống, còn
sống. Tôi đau đớn ngất ngư, thấy nhói ở trong lòng, từng cơn đau có thật
khi đi qua cửa Chánh Tây bị đổ nát, qua các khẩu súng đồng mà ngày nào
trong thuở nhỏ, hai mươi năm trước, tôi ao ước được bò lên ngồi trên đầu
nòng súng rồi nhẩy từ đây xuống.Tôi phải đau với Huế vì thấp thoáng
trong không gian mờ nhạt của Huế co ro ướt át, tối mùa đông năm 1949,
cầu Gia Hội đang sửa chữa, tôi loay hoay lạc lối trên những con đường
Ngự Viên, Trung Bộ, lạc qua cầu Đông Ba về đến cống Phát Lát, thằng bé
đội nón cối trắng và đi ba ta quai chéo, quần dài xanh có tấm yếm trước
ngực “để che gió máy” Tôi đấy, tôi của tuổi ấu thơ hỗn độn những rung
động chưa đặt tên trong một thành phố âm thầm thê thiết.Tôi đau với Huế,
phải nhức nhối từng hồi, giật giật ở thái dương khi nhìn cảnh người đàn
bà tất tả gánh đứa con đi trên đường Hương Thủy, Gia Lê, hai vạt áo dài
đen đánh phần phật vào đôi chân luống cuống.Thuở xưa cũng thế, cũng
chạy giặc, cũng “vỡ mặt trận,” cũng tan nát lửa đỏ và điêu tàn hừng hực.
“Tây từ bên Tòa Khâm đánh qua, mẹ bỏ con trong thúng và gánh đi trong
lửa đạn”. Thế nên tôi phải đau cùng Huế, dù quê hương đó bạc đãi, phân
lìa..
Huế sống, cũng như sau bao nhiêu đại loạn, Huế chậm rãi chắc
chắn chống gậy, lấn từng tấc, từng phân dựng đứng cơ thể tàn tạ và hồi
sinh.Lần này cũng vậy, sau khi mất Đông Hà và Quảng Trị bị vây khốn,
đồng bào Quảng Trị băng qua vùng Hải Lăng, Lương Điền chạy về Mỹ Chánh,
dân Mỹ Chánh nhập vào lui xuống Phong Điền, An Lỗ ... Nhưng Phong Điền,
An Lỗ đâu phải là phòng tuyến “tử thủ” được ; hai con sông cạn đáy phơi
lòng cát khô khan dưới mặt trời hạ chí ... Những người dân này lui thẳng
về Huế ... Và Huế bắt đầu thất thần hoảng hốt.Nhưng vẫn rất nhiều người
tin tưởng: “Phe mình giữ được Quảng Trị, can chi mô, vài bữa mình lấy
lại Đông Hà mấy hồi ...” Nhưng niềm tin tin tưởng như quả bóng căng hơi
sau khi nhận mũi kim đâm ngập.Quảng trị mất, mất chưng hửng tức tối.Biệt
Động Quân nương nhau dọc quốc lộ về Nam, thủy Quân Lục Chiến co lại,
tiểu đoàn này đỡ tiểu đoàn kia rút gần xuống Mỹ Chánh và sư Đoàn 3,
không phải lỗi ở lính, ở cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không ở
Tướng Giai (chưa có thể kiểm chứng được) tan vỡ một cách phi lý, ba
trung đoàn dù bị thiệt hại từ ngày đầu tháng 4 vẫn còn đủ quân số, vũ
khí, phương tiện liên lạc, bổng nhiên như viên đá nhỏ tan trong ly nước
bốc khói.Một đại đơn vị vỡ tan trong bất thần kinh ngạc, dân và lính đưa
nhau chạy giặc đổ về Huế như cơn nước từ nguồn băng qua bờ đê cát
nhỏ.Và Huế dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị nổ bùng, vỡ nát như ánh
lửa điên loạn bốc cháy chợ Đông Ba chen tiếng đạn của đám quân đói, Huế
vỡ tan.Vỡ dưới ảnh hưởng kinh khiếp của Mậu Thân, giặc vào và ta chết,
chết từng loạt.
Huế hốt hoảng vì viễn ảnh thấp thoáng toán lính mang ngôi sao
vàng sục sạo khắp cùng ngõ ngách, đường hẻm để tìm địch, giết Ngụy. Huế
sợ và bốc cháy lo âu ... Người xuôi Nam hướng Đà Nẵng, nối nhau chen
chúc trên tất cả mọi phương tiện di chuyển. Bỏ quê hương chạy giặc...
Bây giờ là buổi chiều.Huế đang ở mùa hè, phượng đỏ, mặt nước
sông Hương loáng ánh nắng.Tôi đi dọc bờ sông, chiếc cầu mới quá tân kỳ,
chân cầu vây kín giây kẽm gai đề phòng thủy lôi không hợp với nét cổ
kính tàn phai xứ Huế, công trường Phú Văn Lâu tiêu điều, lá xanh không
che nổi sức nóng.Nơi này, thuở xưa xa lắm, tôi lang thang nhặt những hạt
cườm đỏ có chấm đen từ cây rụng xuống, đứngở bồn hoa nơi có bốn con
rồng luôn phun nước đưa bàn taynhỏ e dè hứng những hạt nước long lanh
bắn tung tóe trên ven bồn đá xám.Bờ sông xưa nay cỏ dại mọc đầy, những
viên đá nâu đỏ của lối đi không còn nữa thay vào đấy lớp đất cát tung
bụi dưới bước chân.
Cầu trường Tiền không còn vang tiếng guốc và chập chờn những tà
áo trắng, nhưng đã có bóng người và màu sắc.dọc theo đường Trần Hưng
Đạo, bến xe, quán ăn, tiệm nước đầy thực khách, người ở Đà Nẵng trở về
nhiều hơn người ra đi.Dấu hiệu tốt ở tiếng thở dài nhẹ nhõm của người
hành khách khi bước xuống xe - “Rứa mà tui nói không ai tin, Huế có chi
mô mà sợ ...”
Trời sập tối, tôi leo hàng rào nhẩy vào căn nhà người cậu ...
A! Cậu đây rồi.Ông cậu quắc thước khỏe mạnh ngày xưa không còn nữa,
trước mắt tôi chỉ có một ông già, tóc và râu trắng bạc. Cậu run tay, mắt
mở lớnnhìn thằng cháu hoang đàng trở về trong lúc trời hết nắng, ngày
tàn ... Con đấy hả,û trời ơi ... Lâu chẳng biết con ở đâu, con đến lúc
cậu đang cúng bà ngoại, cúng bà với bát muối mè và cái bánh chưng !
- Cậu không đi đâu ?
- Không, Mậu Thân cũng vậy, cậu ở nhà, hôm nay lại là ngày kỵ bà, cậu không đi đâu hết !!
Chị tôi ở bếp lên, chị Nga đẹp đẽ đài các của ngày xưa cũng đã
thay đổi, đấy là một người đàn bà mà chịu đựng đã đầy làm xạm mái tóc
xanh ...
- Chị ở Đà Nẵng ra với cậu, chị tin sẽ không có một chuyện gì
nữa, tất cả mọi chuyện cũng thế thôi.sống là được, sống là hạnh phúc rồi
...
Tôi ăn bữa cơm gia đình sau bao nhiêu năm cách biệt.Đi ra khỏi
nhà trong bóng tối dày đặc, đèn đường không có. Lối đi nhỏ lẫn trong đám
hàng rào lá chè xanh dầy kín.Dọc trên đường về sân bay Tây Lộc, hào bên
phải bay ngát hương sen - Mùa hè rồi, mùa đẹp nhất xứ Huế, mùa củađêm
trăng nhỏ giọt qua cành lá, bánh xe đạp rong ruổi trên đường nhựa vắng,
lưng người con gái chuyển dịch bí ẩn sau chiếc áo mỏng và một khối tóc
đen đong đưa kỳ ảo theo bước chân, ẩn hiện bất chợt qua những hàng dậu
lá che dầy đặc.Mùa hè sống động kỳ ảo của Huế đấy, bao giờ có lại những
ngày xanh huyền hoặc đó, không cònnữa, tuổi nhỏ đã qua đi rồi ... Qua
một quán nước, ánh nến vàng mệt, cô gái bán hàng rạng rỡ giữa một đám
lính trẻ, Quán Lưu Khách.
Một đời sống khác của Huế bắt đầu, bắt đầu lại trên hoang tàn
nhưng còn nguyên cách thế phong lưu của hương sen kỳ vị đậm ngát một
vùng trời đất.Trên cực điểm của trầm thống, bên cạnh những hào xưa thành
cũ, những người tuổi trẻ ở Huế sẽ lớn lên, gạn lọc, tập trung năng lực
để tồn tại và khia phóng ... Ước mong quê hương đó lớn đẹp và khỏe mạnh
như tiếng cười dòn dã thẳng thắn của cô gái hồng sáng dưới ánh đèn dầu.
Ước mong như một tạ lỗi muộn màng.
Bay trong hoàng hôn,
Tàu không bay thẳng ra đèo Hải Vân, nhưng bay dọc theo bờ biển
ra Nam Ô.Trời đã chiều, nắng hết chỉ còn “dư âm” của ánh vàng trên cây
cỏ.Từ trên cao nhìn xuống, biển Thanh Bình ngày nào không còn nữa, nhà
lấn ra sát mặt nước,nước xanh đục lợn cợn rác, bọt vàng của rêu và chất
dơ.Hết cả rồi, chốn xưa, ngày mới lớn, đêm hè trong vắt lấp lánh sao,
nửa đêm về sáng ngồi dậy đốt vỏ bánh xe nhìn ánh lửa, nhìn đại dương,
nhìn Tiên Sa đen thẫm cùng Hải Vân vòng đường kín đặc, vòng núi hở một
khoảng ở hải đăng để thấy biển phía xa xanh xao dưới ánh trăng non.Mơ
ước gì trong đầu óc tươi trẻ đó ?Không biết, chỉ thấy lòng mênh mông
thênh thang bay lên tiếng hát âm thầm phơi phới.Hết, chiều nay trên độ
cao gió lạnh nhìn xuống biển xưa vấy bẩn và lòng nặng trĩu nặng phiền
phiền.Máy bay dọc theo biển để thấy rừng dương ở Nam Ô xơ xác, trơ
rụi.Ôi khu rừng thơ mộng của ta mười bốn năm trước thế này sao.Rừng
không còn, chỉ còn khu vườn dương liễu cằn cỗi, bờ cát vàng dốc đứng nay
cũng thấp xuống tan hoang ... Không còn gì nữa, quả thật không còn gì
nữa, như tuổi thanh xuân đã mờ khuất đi.Qua núi Nam Ô để thấy lại bóng
mẹ xõa tóc ngồi hong nắng ... “Mẹ con mình là người đầu tiên ở Đà Nẵng
đến tắm ở đây ...” Mẹ đã nói thế để khích lòng “giang hồ vặt” của con
trai.Đà Nẵng - Nam Ô 10 cây số đường dài quá xa cho một tuổi mới lớn.
Năm phút máy bay đủ đi hết một quãng đời niên thiếu, mau thật.Tôi tưởng như vừa qua lớp mộng dài.
Gió lạnh, phi cơ đã đâm thẳng ra biển để vượt Hải Vân, đỉnh núi
bên trái phủ mây trắng, đường nhựa ở trên, đường xe lửa ở dưới, thấy rõ
trước mắt hình ảnh đứa nhỏ tóc bay đưa chiếc đầu ra khỏi cửa sổ thành
tàu nhìn xuống đại dương đen ồn tiếng sóng, sóng bạc đầu xô đẩy vào
rà.Sâu hun hút, tưởng dưới xa như là chốn nghìn trùng không đến được ...
Sửa lại thế ngồi đỡ mỏi chân, cong hai đầu gối sát ngực cho bớt
lạnh.Lại giống hình ảnh đứa bé đêm trừ tịch năm nào ngồi co ro trong một
chiếc xe hàng trên đỉnh đèo sương phủ và gió rét.Tôi sống torng hai thế
giới, trong hai chốn thời gian lúc trực thăng đổicao độ vượt đèo ...
Mình là ai ?Đi đâu ? Mong ước gì ?Hơn mười năm chưa thấy rõ mình.Đời khó
thật.
Trời vẫn còn sáng trên không, thứ ánh sáng mờ mờ của bóng tối
sắp đến, xuống ở độ thấp 100 thước.100 th. để thấy rõ từng nếp nếp nhà,
sân đất, giậu tre và những cánh đồng xanh.quê hương bình yên và đẹp vô
ngần trong ánh sáng cuối cùng của một ngày.Đầm Thủy Tú lăn tăn sóng nhỏ
trẻi dài như một thỏi kim cương xanh.Đầm mênh mông lặng lẽ dạt những
vòng tròn xôn xao khi trực thăng bay qua, núi Túy Vân ấn một nét đen đậm
dịu dàng trên không gian và mặt hồ xám bạc.Túy Vân Sơn, tưởng tượng đến
hình ảnh ngày xưa đoàn thuyền lộng lẫy của Hoàng Gia trôi theo giòng
nước đến nơi này neo bến và tiếng chuông cuối ngày lồng lộng trên sóng
nhỏ tan dần vào hư không.Chiến tranh mệt mỏi của ngày dài di chuyển tan
nhanh như sương mỏng, tôi mở to hai mắt, dựng đứng hết xúc cảm để nhìn
hết, lấy hết toàn khối quê hương đang nằm dài yên lặng dưới xa - Không
thể có nơi nào đẹp hơn quê hương ta !Câu nói của cuốn sách thơ ấu được
lập lại không định trước.Phải, quê hương ta quá đẹp, vẻ đẹp mộc mạc,
bình lặng cao cả, quê hương là thiên nhiên cô đọng, quê hương tan biến
hòa hợp vào cùng vũ trụ.Núi không cao, đầm không rộng, nhà mái tranh,
con đò nan mảnh mai trôi lững lờ trên sóng nước hiền hòa, khuôn đất nhỏ
vàng nhạt, từ trên cao vẫn tưởng được độ cứng và vẻ bóng bẩy phẳng lặng
in từng đường chổi mới quét qua ... Quê hương thương yêu nồng nàn dưới
đó, dưới độ cao 100 thước, trên lưng đàn trâu về chuồng, cong đôi sừng
nghếch khuôn mặt chịu đựng, giương đôi mắt võ vàng nhìn tiếng động trên
không.Lòng bồi hồi run rẩy như vừa qua khỏi chốn linh thiêng ... Bao
nhiêu phần đất của quê hương còn đượm vẻ thanh bình này ?Chắc còn rất
ít, hay chỉ còn lại trên ảnh trên tranh, trong trí tưởng, trong ao ước
... Vì khi máy bay vừa đến Huế, nhận được lệnh di tản thương binh, phi
hành đoàn chỉ kịp và vội miếng cơm, lấy tọa độ bãi đáp và tầng số làm
việc, bay liền hướng Hương Điền dọc Phá Tam Giang.Tiểu đoàn 6 và 8 TQLC
vừa đụng trận.
Trời sập tối, cảnh vật xanh xanh xám xám, chút sương mờ đã dâng
lên từ mặt nước.trực thăng qua La Vân, Hương Cổ, Quảng Điền, những nơi
chốn quá quen byết bao nhiêu lần xuôi ngược trên bờ lúa dọc con sông
xanh thẫm lác đác những lá tre già.Tàu vượt Phá Tam Giang - A! Lại một
chốn xưa huyền bí - Phá mông mênh bí mật u trầm, phá xôn xao chuyển dịch
những lượn sóng xuôi ngược, phá nồng nàn say sưa như tuổi nhỏ khi đọc
đến câu “Yêu em anh cũng muốn vô.Sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang.”Vật
biểu lượng ngăn trở tình yêu là đây, tôi nhớ lại được nỗi rung động náo
nức của tuổi mới lớn.. Nhưng bỗng nhiên như luồng sét thật mạnh đánh
sát mặt, như kẻ bị phụ tình trong giờ khắc say đắm nhất, tàu đã bỏ mặt
nước xanh để bay lên vùng cát trắng.Tôi lao đao như từ ánh sáng vào bóng
tối, tôi tóe lửa ngộp ngộp hơi thở như gió thổi mạnh đập vào mặt.Nỗi mơ
mộng tan vỡ, vỡ bùng không còn chút níu kéo.tôi đang bay trên một quê
hương điêu linh, không thể trốn chạy được ... Lũy tre xanh, bọt sóng đầm
xô đẩy, núi Túy Vân lặng lẽ, mảnh vườn đất phẳng, nụ cười sáng, bàn tay
vẫn trên đồng xanh không có giá trị gì nữa.Quê hương đẹp đó quá ít, quê
hương này, quê hương dưới chân, trên cát trắng quê hương trải dài theo
biển từ Thế Chí, Đại Lộc qua Mỹ Thủy, Triệu Phong mới thật sự điển hình
cho tàn tạ, tàn tạ tuyệt vọng câm nín của những “ổ” nhà nằm rải dài trên
30 cây số ngút ngàn lặng lẽ.Ba mươi cây số không nhà, chỉ độc một chuỗi
ổ chuột sùm sụp ép mình trên cát, chơ vơ thụ động dưới mưa bom và đại
bác - Tội quá trời ơi, năm xưa 1967, khi qua vùng này đã phải cúi mình
xuống làm đôi để nhìn một gia đình một mẹ năm con ngồi ôm lấy nhau dưới
mái lá như vượn mẹ bồng con ngồi co mình nhìn lũ người cay độc ... Bao
ngày qua, đời sống dưới mái lá đó càng thêm độ thê thảm.Không đồng lúa,
không nghề chài, họ ăn gì, lấy gì để sống qua hằng hằng tháng ngày tân
toan, rồi lại thêm bom rơi đạn rớt, bom đạn không phải chỈ một cơn một
lúc nhưng phủ đầu và ngập mặt.Trước 1967 đến bây giờ là bao lâu ?Còn con
người chăng trên bãi cát trắng dưới những “ổ” lá nằm rải rác trên dải
quê hương điêu tàn đó ?Có đàn lợn đi lang thang trên bờ biển, loài thú
tầm thường bình yên, không thích hợp với hùng vĩ của đại dương chạy tán
loạn khi nghe động cơ vang nổ ... Chữ Gia của tiếng Hán đuọc biểu tượng
bởi một mái nhà dưới có chữ Thỉ - Trên giải đất không nhà này đâu còn
nơi nương náu cho loài thú tội nghiệp kia - Người sống làm sao được
trong tan nát này hả trời ?Câu hỏi buồn cười tội nghiệp vang âm thầm làm
nhói cơn đau nhức nhức ở nơi ngực.
Không thể gọi là “dãy phố buồn hiu” nhưng phải gọi “dãy quê hương thê thảm,” cũng chưa đủ cho nơi chốn tàn tạ hấp hối này.
Dậy đường tử khí,
Không khí tàn tạ của vùng Mỹ Thủy, Hương Điền, vẻ đau đớn lạnh
cứng của xác người lính Thủy Quân Lục Chiến Tiểu Đoàn 8 khi gió thổi lớp
Poncho dán chặt vào mặc để lộ chiếc đầu tròn sống mũi thẳng, năm ngón
tay tái xanh có những móng dài đầy đất của tối hôm qua trên trực thăng
không còn nghĩa lý gì so với cảnh tượng trước mặt.
Tôi đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai
Đẳng, xã Hải Lăng..Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói,
khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể
nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống,
mắt mờ nhạt, mũi phập phồng.Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra
trước sự tàn khốc trước mặt.Trời ơi ! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội
ngược ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác
của con người mất hết khả năng kiểm soát.Kiểm soát làm sao được nhịp đập
của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi mắt, tay nổi
da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập xuống - Mệt, máu chảy
ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân căng đến độ
chót ... Cũng không phải như thế - Tôi không biết, hoàn toàn không biết
được gì của xác thân.
Tôi không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với
người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống.Chung quanh
tôi, trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí - Chết.Phải, chỉ có
sự chết bao trùm vây cứng.Chỉ có nỗi chết đang phơi phới bừng bừng che
kín không gian.
Đã sống trong cảnh chết của trận Đồng Xoài năm 65, trận Bình
Giả năm 64, đã nằm cùng, ngủ chung với xác chết qua một thời gian dài,
nhưng bên cạnh những nín lặng đau đớn của những cái chết này vẫn còn
tiếng nói, tiếng động của người sống dù là tiếng khóc vật vã, lời kể lể
thống thiết của những người mặc đồ tang lăn lộn trên xác chết đã sình
chương mới được kéo về sau bẩy ngày tử trận.Những cảnh chết còn không
khí người sống, tôi chịu được - sự chịu đựng khốn mạt chỉ có chiến tranh
mới dạy được cho người.Và mới gần đây, An Lộc với những ngôi mộ vô
danh, mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh
hoàng, người cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa
con vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót
- Bên cạnh người chết vẫn có người sống - Người sống, dù với thể xác vô
tri, đi đứng hcuyển dịch như thứ người cuồng tín bi thảm - Người điên
buồn, điên lặng, điên câm nín, điên ở trong, điên chạy ngược, thấm đẫm,
trĩu nặng từ tế bào thần kinh - Dù sao cũng là Người Sống.Ở An Lộc, tôi
còn thấy được loại người cuối đáy đau thương đó.An Lộc lại quá nhỏ, chỉ
hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và
gọn như nhát dao ngọt.Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị thì
đã lún hẳn vào trong ... Tôi cũng chịu đựng nổi, gồng mình mà chịu, chịu
được như chiếc bóng căng phồng khí độc.
Ở đây, Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm thì khác hơn An Lộc một bậc,
hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một chặng,
dài hun hút mênh mông.sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây số trời
chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương
vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn
lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa ... Nhiều quá, 9
cây số hay 9000 thước, mỗi thước trung bình hai bộ xương tung tóe, vậy
tất cả là bao nhiêu?Chỉlấy con số trung bình vì có chiếc xe hồng thập tự
chổng bánh vỡ sườn để lộ những bàn chân đen thòng ra ở cửa đằng sau ...
Chiếc xe Honda gẫy đôi, còn xót lại hai đôi dép Nhật, người ở đâu
?Không làm phân biệt được tay này, chân kia, đầu lâu người nọ ... Chiếc
xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó
xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào
xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt
lấp lánh trên mặt nhựa - nhựa thịt người !!Trời nắng, đồng trắng, con
đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất - phải gọi xe ủi người mới đúng -
vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi
... Vạn vật chết trong lòng ánh sáng.Ánh sáng có mùi người
Làm được gì bây giờ? Bịt mũi, che mồm, nhưng tất cả vô ích, hơi
chết đọng trên da, chui vào mũi, bám trên áo, hơi chết hít vào phổi
trôi theo máu. Tôi đang đứng trong lòng của sự chết.Tránh làm sao được,
ai có thể ra khỏi khối không khí của nơi sống?Những cảnh chết tập thể
của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động
vì người chứng kiến thấy được “xác người,” xác chồng chồng lớp lớp có
thứ tự, gọn ghẽ nguyên vẹn... 9 cây số đường chết của Quảng Trị không
còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết
tung tóe, chết vỡ bùng ... Chết trân tất cả mọi cái chết.Không còn được
“người chết” trên đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương
thê thảm.Giáp Hậu, Hải Lâm :Tên nhớ vào máu dù sau này tôi chết, ký ức
cũng không thể phôi phai ...Đã dùng hết tất cả chữ nghĩa có trong đầu,
nhưng chưa đủ, chắc rằng chưa thể đủ được, tôi điều tiết hết cả thần
kinh để đón nhận, ghi nhớ nhưng nhận không vừa, ghi không nổi ... Lòng
bây giờ cũng như dây đàn đã đứt, chỉ còn thoáng âm ba cứng đỏ mơ hồ
không kìm giữa nỗi chết.Đau choáng váng, ngất ngư dật dờ bởi thứ men
chết dậy lên hừng hực như nắng sáng.
Pháo vẫn còn rơi ở phía trái con đường, rơi từng ba quả một, từ
vùng Tây Bắc đến, người lính Công Binh vẫn từ từ cho xe ủi “người,” tôi
vẫn lặng lẽ hút những hơi thuốc đắng.Nếu pháo nổ ở đây thêm hai xác
người nữa thì có là bao !Không gì lạ nếu tôi và người lính Công Binh này
chết.Chẳng có nghĩa gì khi thêm hai đầu lâu mới, bốn cánh tay, bốn bàn
chân và ít ruột gan rơi rớt đẫm máu văng trên mặt nhựa này ...Đúng như
thế vì những đầu kia, tay nọ chắc cũng đã qua một lần rung động, cũng có
qua một vết kỷ niệm, một đời nồng nàn ước vọng, sung sướng và hạnh
phúc.Bây giờ còn gì nữa đâu trong chiếc sọ đen nâu dính chút thịt nhão
nát và lọn tóc khô rối rắm.Người đàn bà, sinh vật đã một lần yêu quý, đã
một lần thiên đàng rực sáng của tình yêu, là hạnh phúc mầu nhiệm của
người mẹ ...Còn gì đâu trong chiếc sọ nồng thối lăn lóc nọ ?...Hết nơi
cho Người, hết thật.Lọt vào 9 cây số này con người đã hoàn toàn tận
diệt, sinh vật người hoàn toàn tận diệt. Hết, một chữ ngắn gọn để diễn
tả cơn tan vỡ cùng cực ... Chỉ còn được mỗi chữ này.
Xe ra khỏi, không, phải nói rằng đó chỉ là cảm giác tự đánh lừa
mình, vì không ai có thể ra khỏi được nỗi chết trùng vây kín.Đến La Vang
thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính tòa, nơi bạn tôi, Tiểu Đoàn 11 Dù
đang chiếm giữ.Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, tôi đi như
người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã đốt cháy hết loài người.
Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước
đi, gió mát và không khí thênh thang.Ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao
nước kỳ cọ từng ngón một - Tôi muốn tẩy một phần sự chết bao quanh ? Có
cảm giác lạ :tôi vừa phạm tội, tôi được sống.Phải, tôi có cảm giác như
chính mình vừa giết người và dành quyền được sống, chính bàn tay này vừa
tham dự vào trò tàn khốc ...Tôi nghĩ lộn xộn điều này nối lấy điều kia,
hổ thẹn, uất ức, giận hờn, đau đớn và ... vô tri giác.Tôi muốn “chửi”
Tướng Giai.Dù có bị thôi thúc, ép buộc từ một chiến lược nào đó ông ta
cũng không thể bỏ Quảng Trị trong bất thần để đến nỗi 9 cây số đường kia
phủ thịt người.tôi cũng muốn chửi Bắc Quân.Dù luật chiến đấu là phải
thắng, nhưng ai nỡ bóp cò để B40, B41, 75 ly sơn pháo, từ trên những cao
độ của Xuân Lâm, TrườngPhước, Trường Thọ (những tên gọi sao cay đắng)
nổ vào những “mục tiêu” xao xác - D0oàn người chạy loạn.Thắng trận ở đâu
khi những mục tiêu đau đớn đó ngã xuống ?Tội nghiệp, những người lính
của Đại Đội 3 Quân Y còn tưởng đến giá trị của chiếc cờ trắng chữ thập
đỏ nên đã trương lá cờ thụ động vô nghĩa để băng qua sự chết.Bắc quân,
hình như anh đã không có tình người, cạn tình người.Anh giải phóng cho
ai khi đi giết con người ?Tôi muốn hỏi điều đó, hỏi vang vang, hỏi bằng
tiếng thét đến vỡ cổ, bật máu, tôi muốn hỏi tại sao Người giết Người
tỉnh táo và tàn tệ đến thế kia ? ... Từ nơi đặt sứng đến “mục tiêu”
không quá 1 cây số và gần nhất dưới 50 thước, anh không nghe tiếng thét
khi Người chết sao ? Tôi muốn hỏi người lính miền Bắc với hết cả thống
hận trong lòng.Căm thù nào trên người đàn bà tóc rối bế con chạy xôn xao
giữa giòng người tan nát ?Tôi muốn hỏi, hỏi ngàn lần, hỏi vạn lần người
mang danh hiệu là lính của Quân Đội Nhân Dân.Nhân Dân để gọi những ai
?Tôi muốn hỏi một triệu triệu lần bằng tiếng thét vô hình nổ bùng trong
đầu óc khi ngồi giữa cánh đồng trống.
Muốn cào mặt, đấm ngực, cắt da để máu chảy thành giòng, để nhìn
thấy mình cũng “được” đau đớn, chia sẻ.Tôi bất mãn với chính tôi trong
trạng thái ù lỳ vô tri khi giương mắt nhìn rõ chiếc sọ người tóc
rối.Phải, tôi cũng muốn chửi cả chính tôi, thật sự như thế ... Tôi cũng
có tội, tôi cũng có tội đấy, trời ơi!!
Đi vòng vòng ở sân của Vương Cung Thánh Đường, nhìn tượng thiên
thần, tượng Đức Mẹ, cây dương liễu cháy xám ... Những cảnh sắc và nơi
chốn này đối với tôi là kỷ niệm không phôi phai, nhưng bây giờ sau
khiqua 9 cây số chết, lòng cứng, não trơ, tôi đi xiêu vẹo ngả nghiêng
trong lòng nắng và gió nồng ... Ngửi và thấy toàn người chết.Trí óc
không nghĩ được cái gì hơn ... Đi qua ngôi nhà xưa khi mùa đông 66, 67,
tôi, Thừa, Hổ và anh Bảo ngồi ghếch chân lên gốc cây thông uống bia
đá.Trời lạnh nhưng cũng phải uống nước đá, chúng tôi vừa ở núi, nơi đầu
sông Thạch Hãn rút ra, 15 ngày trong đó ... Bây giờ những bạn xưa đã
chết, tôi thì đang bị vây khốn trong một trời thống khổ, làm cái gì đây
?Còn gác chuông của nhà ông Trùm họ đạo : Tôi nhớ căn nhà này có một cô
gái, Hổ đã trêu ghẹo cô ta một câu trước khi rút quân đi, Hổ chết đầu
Xuân 68, cô gái bây giờ ở đâu ?Hay cũng đã chết tan trong một vùng lửa
đạn.Bước qua gạch ngói của căn nhà đổ nát, tôi đến gác chuông kéo sợi
dây, hai quả chuông quá nặng, phải kéo bằng cả hai tay ... Kính ...
coong ... Tiếng chuông âm u vang động ; vang vào trong núi không nhỉ
?Nơi đây là một bình nguyên trùng điệp và Trường sơn bao vây nơi xa ...
Vắng vẻ quá !Tôi nói thật lớn cho chính mình nghe.Chẳng biết nên làm gì
?Giật dây chuông thêm một lần nữa ...
Về theo chuyến tản thương, người thương binh nặng nhất chốc chốc
ứa chút máu hồng, bên cạnh, gã tù binh bị thương nằm mê man ...
- Tụi này cứng cổ lắm, bị thương nó nằm lì để bắt mình vác đi, đ
..m .. nó lại được nằm băng ca trong khi tui phải bò bằng cùi chỏ !!
Anh lính bị thương hai chân ngồi dựa thành xe chửa đổng ...
- Thôi, mình khá hơn tụi nó là chỗ này, lỡ cứu nó, cứu cho trót.
Tôi tìm đường nói cho anh lính khuây khỏa, quả tình cũng không tin được
lời nói của mình.Vì khi đi ngang căn nhà ở cạnh trụ sở xã Hải Lâm, nhìn
cảnh người đàn bà ngồi “tước” từng sợi thịt ra khỏi xương người
chồng.Người vợ ngồi kẹp đầugiữa hai gối, tước từng sợi thịt đã nâu đen
nhão nát trên xương ống tay và chân ... Bà ta dùng bàn tay “xoa” lên
trên lớp xương sọ, vừa để đuổi kiến vừa để tẩy phần da ươn ướt mòng dính
vào khối xương mũi, động tác bình thản thân ái như người vợ trong khi
âu yếm tay lên mặt chồng.Ôn ơi là Ôn ơi !! Tiếng khóc nhức nhối than van
gầm gừ trong cổ họng như đánh nhịp khi người vợ “nắm” đầu người chồng
lên bằng hai ngón tay thọc vào ổ mắt “rảy” cho hết kyến !Tôi biết gã tù
binh nghe nhưng cố lờ, gã ngủ trên suốt đường di tản mặt bạnh ra khiêu
khích.Người lính của ta có thù hận một chút cũng không sao.Có điều không
công bằng giữa hai phe lâm chiến, lính ta đánh giặc không thù hận, tôi
biết điều này vì tôi cũng là một lính tác chiến.
Trên xe ra phi trường nghe câu chuyện của hai vợ chồng già quá
giang ở băng sau, tôi chợt khám phá ra mọt điều : Dân chúng vùng Thừa
Thiên, Quảng Trị đã sửa soạn đón chờ tàn khốc qua tiếng nói.Họ không
nói, nhưng than vãn, kể lể, rên xiết.Nỗi oan khiên vô hình chập chùng
trên mỗi âm, mỗi chữ, cách lên xuống của từng câu.Không nói quá đáng, từ
lâu, đã cảm thấy nhưng chưa kyểm chứng cho đến hôm nay ba thàng mười
ngày, lại một số lượng thời gian bí nhiệm mà người Trungcứ mãi nhắc tới,
tức là 100 ngày của trận chiến cuối mùa, 3 mặt trận : An Lộc, Kontum,
trị Thiên đều cùng có một mẫu số chung : Dân Trị Thiên là nạn nhân đa
số.Vì dân cạo mủ ở an Lộc, người dinh điền ở Kontum cũng là những di dân
Quảng Trị.Thậm chí ở chiến trường Bình Giả, số lớn nạn nhân cũng không
ai ngoài những người dân vừa mới di cư từ Cam Lộ, Khe Sanh vào ... Thôi
đó là tai ương tiền định, Trị Thiên còn là Câu Ô, xứ sở của người Chàm
mà người Trung gọi là Hời.Âm thanh sao nghe qua thê thiết, oán hờn, rồi
lại còn giọng hò nữa ... Ai đã đứng ở bờ sông Bồ (chảy qua An Lỗ)sông
Thư Rơi (Mỹ Chánh), sông Hương nghe giọng hò cất lên từ những khoang đò
khi chiều vào tối mới hiểu được vì sao có những quê hương cứ mãi tàn tạ,
oán hờn ... Định mệnh đã xếp đặtthế.Chì còn lời này để an ủi kiếp đắng
cay.
Người Lính Việt Nam,
Một nhiệm mầu
Chiến trận vẫn tiếp diễn, tôi lại bị kẹt trong một guồng máy tầm
thường hèn mọn, phải bị trói chân, buộc tay, hằng ngày dẫn một Đại Đội
Địa Phương Quân đi chặt ô rô, cóc kèn, dừa nước, phải liên lạc, nhận
lệnh từ những sĩ quan đặc ước cựu binh sĩ, Hạ sĩ quan của quân đội thuộc
địa, những “cấp chỉ huy” sáng giá, những Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng mà
chủ đích của công việc là làm sao “vồ” được một số tiền trước khi đổi
đời, lộn giống ... Trong tầm thường cay đắng này, tôi cứng người vì hổ
thẹn cùng nỗi uất ức điên cuồng lặng lẽ.Hết, phải giã từ những chiến hữu
hào kiệt, phải giã từ những chiến trận mịt mùng lửa dậy, phải giã từ
ngày căng thẳng giữa hai cọc sống - chết và đêm nóng đỏ của hơi bom rát
mặt...
Ngày ngày ngâm chân xuống bùn sâu của những kinh rạch chằng chịt
vùng Bến Lức, Long An, đêm dẫn bẩy người lính nằm phục kích trên bờ
ruộng, tôi nhìn sao, nhìn trời, nhìn cơn gió và ánh nắng, tưởng nhớ đến
những nơi xa, nơi chiến trận trùng trùng giăng kín những người quen hay
không quen ngã xuống trong mỗi giờ qua, mỗi ngày tàn.Tiểu Đoàn 11 Dù ở
quảng Trị vừa chết thêm một Đại Đội Trưởng - Nguyễn Phúc Long, Đại Đội
Trưởng chỉ huy, như thế có nghĩa là pháo đã tăng cường độ, tăng rất cao,
rất mạnh.Tiểu Đoàn 3 Dù chết anh Thiếu Úy Thủ Khoa một khóa Sĩ quan Trừ
bị, cựu sinh viên luật từ Pháp về, con một ký giả, cựu Thủ Hiến, một
Trưởng Hướng Đạo. Tiểu Đoàn 3 Dù nằm dưới Mỹ Chánh, vậy là chiến trận đã
trở chiều.Rồi chiến trường Quảng Ngãi tăng cường độ.Bạn tôi, Lê Văn
Nghĩa, Chi Đoàn Trưởng chiến xa lừng lẫy 1-4 mất tích ở mặt trận Quế
Sơn, mất tích hay chết?Đau biết mấy, tháng trước Nghĩa vào Sài Gòn chạy
đôn đáo để tìm tôi... Tìm tao làm gì hở Nghĩa, phải chăng mày biết điềm
đi khuất nên tìm kiếm để giã từ!Ôi, bạn thân thiết của một đời mà bao
nhiêu năm không gặp, lúc có thể gặp lại thì đời đã đóng cửa biệt ly.
Đau, cảm giác đau đớn rì rầm soi mòn cơ thể trong tháng ngày tiêu hao
làm tôi gẫy đổ từng vụn nhỏ. Ở vùng II, Tiểu Đoàn Biệt Động Quân của Ngô
Văn Mai, Tiểu Đoàn giải phóng Bồng Sơn đang kêu gọi tôi đến, hăm hở sửa
soạn chuyến đi dài với Biệt Động thì chiếc cùm cứng nặng đã gông vào
quanh cổ, làm gì đây? Giữa đám mây, cơn mưa chợt đổ ào xuống khi chân
ngập dưới bùn lầy rạch Rít, tôi ngẩng đầu nhìn hạt mưa mà gởi đến chiến
trường bạn hữu nơi xa tiếng thét lặng căm chất chứa những cay đắng lẫn
ngậm ngùi. Rồi Thủy Quân Lục Chiến sau 27 tháng Bẩy, thay thế Nhẩy Dù để
“dứt điểm” cổ thành Quảng Trị.12 giờ 45, ngày 25 tháng 7 tôi ở đấy,
chứng kiến Tiểu Đoàn 5 Dù “mớn” bờ thành và “dựng đại cái cờ,” lời Đại
Đội Trưởng Đại Đội 51/TĐ 5 Dù.Gần hai tháng qua đi, Tiểu Đoàn 6 Thủy
Quân Lục Chiến đổi 6 Dù, 3 TQLC đổi 5 Dù, 9 TQLC đổi 11 Dù, Trâu Điên (2
TQLC), Quái Điểu (1 TQLC) chận đường cửa Bắc ngang sông Thạch Hãn,
những Tiểu Đoàn Mũ Xanh quá quen thuộc, quá gần gũi với những Nghiêm,
Liễn, Tiền, Hợp, những bạn thân, đấy là chưa kể Tùng, Để, Phúc, Kim,
Tống, những niên trưởng “đúng chỉ số” đã phải chịu bao nhiêu gian nan để
bước chân vào nội thành, nơi tòa nhà của Tiểu Khu Quảng Trị ... Gian
nguy, hình như danh từ này không đủ, không làm sao đủ được vì cổ thành
là gì, nếu không phải là cục đá vuông với bề dài mỗi cạnh 590 thước, cao
và dầy 5 thước - Mục tiêu được đo bằng số chính xác đó gồm trăm ngàn
viên gạch ghép lại đã thấm bao nhiêu lít máu ?Mua bằng bao nhiêu mạng
người ?Bao nhiêu đời sốngđã đánh đổi lấy bức thành rộng năm trăm thước
vuông đó, bao nhiêu ?27 tháng 7 - 15 tháng 9 là 48 ngày, và nếu kể từ 7
tháng 7, lúc Tiểu Đoàn 7 Dù vượt qua ngã 3 Long Hưng vào cách chi khu
Mai Lĩnh 300 thước thì mặt trận thành phố Quảng Trị thực sự đã kéo dài
trong 68 ngày, 68 ngày với lực lượng 4 tiểu đoàn Dù (5, 6, 7, 11) trong
giai đoạn đầu và 8 tiểu đoàn TQLC (giai đoạn 2) cùng một liên đoàn
BĐQ.Trong 68 ngày đó, đặc biệt là 48 ngày của Thủy Quân Lục Chiến, các
tiểu đoàn của ta đã phải chiến đấu liên tục trên một chiến trường dài
hai câynăm trăm thước từ ngã ba đường Lê Văn Duyệt, đường vào TRí Bưu
đến Long Hưng, ngõ vào Quảng Trị, và ngang một cây số hay 1000 thước -
Những con số phải viết chính xác để nói lên một chiến trường hẹp cứng
gai góc hết ý niệm chiến trận - Chiến trường có diện tích Hai ngàn năm
trăm thước vuông đó đã được 15 tiểu đoàn bộ chiến bao vây và quét sạch
từng thước đất, phải nói từng tấc đất nếu muốn giữ độ chính xác trong 68
ngày, 15 tiểu đoàn hay 7500 người phải đi qua 2500 thước vuông, vậy mỗi
người có bao nhiêu thước chiến trận ? - Con số trung bình cho thấy 3
người lính có 1 thước vuông mục tiêu.Một thước vuông để tác chiến trong
68 ngày !!Quân sử thế giới trước và sau Quảng Trị, không còn một nơi
nào, không thể có một chiến trường nào chật cứng đứt hơi bằng Quảng Trị,
Việt Nam ... Chắc chắn như thế.Trong 68 ngày đó, 6 tiểu đoàn pháo của
hai sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến đã bắn bao nhiêu trái đạn, dàn hải
pháo của Hạm Đội số 7, phi cơ Việt Nam đã đánh 7 phi tuần xuống góc
đông bắc cổ thành, mở đường cho Tiểu Đoàn 5 Dù ; 7 phi tuần gồm 14 phi
xuất, một phi cơ trong một phi xuất đánh 12 trái bom từ 250 ký đến 500
ký ... Vậy trong 68 ngày, bao nhiêu bom đã rơi xuống trên mỗi phần đất
của thành phố chiều dài không quá 15 phút Honda đó ?!!Quảng Trị !Muốn
kêu lên một tiếng nhỏ, muốn nhỏ một giọt nước mắt - Thành phố quê hương
là thánh địa chịu nạn cho hết tai ương nhân loại - Không còn một nơi
chốn điêu linh nào của địa cầu qua mặt nơi mang tên Quảng Trị.Không có
một nơi nào.
Để kết luận, ta tìm một sự so sánh.Người Đức bao vây Stalingrad
76 ngày, người Mỹ giữ Bataan trong 66 ngày, Corregidor 26 ngày, quân lực
Anh và Khối Thịnh Vượng Chung tử thủ Tobruk trong 241 ngày.Và gần gũi
nhất, Điện Biên Phủ thực sự bị bao vây là 56 ngày.Những cuộc bao vây và
tử thủ lừng danh này được thực hiện bởi súng Sten, Mat 36, Garant,
Carbin M1, loại vũ khí hàng đầu của Bộ Binh Mỹ, Bộ Binh số 1 của thế
giới !!!Những trận đánh để đời của quân sử thế giới đó có là gì so với
Quảng Trị khi một anh Hạ sĩ nhất 17 tuổi, Trần Văn Rony của Tiểu Đoàn 6
Dù hạ gần 100 Cộng quân trong một ngày chiến trận ... Dưới đất là cá
nhân chiến đất khai triển tối đa, trên trời 1 pass B52 đi qua (sau 27
tháng 7, phi cơ Mỹ và B52được lệnh đánh Quảng Trị) với 3 chiếc, một
chiếc chở 42 trái bom 250 ký, 24 trái bom 500 ký, cùng đánh xuống trên
diện tích không quá 500 thước bề dài ... Còn gì nữa không ?Quả thật
không còn đủ chữ nghĩa để nói hết “nồng độ” của chiến trường.Từ ngã tư
Quang Trung - Duy Tân, nơi Tiểu Đoàn 6 Dù bàn giao lại.Tiểu Đoàn 6 TQLC
đã mất hết 48 ngày để đánh đến vào góc thành đông nam cổ thành Đinh Công
Tráng - 48 ngày tác chiến dằng dặc thường trực trên trục tiến quân dài
đúng 400 thước ; 400 thước đầy chốt, chốt gồm một tổ 3, 6 hoặc 9 người,
gồm đủ B40 và thượng liên, chôn cứng dưới những công sự chịu đựng được
bom, chốt được bao bởi một hàng rào cối “cơ hữu” từ những chốt lớn đằng
sau và đại pháo 130 từ Đông Hà, Bến Hải, Khe Sanh bắn xuống - Qua được
một tấc đường, đến gần một điểm chốt là bò trên nỗi chết cụ thể như lớp
đất đá ngổn ngang mà bàn tay chạm phải khi lần mò tìm kiếm lối đi ...
400 thước cho 48 ngày tác chiến không dứt thở, còn điểm “thông hơi” nào
của chiến trận để chiến sĩ ta chịu đựng khỏi đứt hơi.
Thế nhưng người lính đã sống còn và chiến đấu được, chiến đấu
hào hùng hừng hực quyết tâm, 30 tháng 3 kể đến giờ này là 6 tháng hay
280 ngày đỏ lửa, người chiến sĩ ta có đêm nào ngủ được quá 4 giờ, bao
lần bình yên cầm cái chén để từ tốn và miếng cơm nóng, người lính ta đã
bắn bao nhiêu ngàn viên đạn, đã dựng mắt thức trắng mấy ngàn giờ ... Cái
thân thể gầy gò nặng dưới 50 ký lô mang bốn ngày thức ăn và gạo, một bộ
áo quần, chiếc poncho, võng, 600 viên đạn XM16, 6 trái lựu đạn M26, 1
hỏa tiễn M72, nón sắt và khẩu súng - Tất cả khoảng 40 ký - 40 ký đè nặng
trên tấm lưng gầy còm hằn dưới xương sống trong 6 tháng để đi qua vực
thẳm của nỗi chết trùng trùng, người lính còn là “nạn nhân” thụ động đến
độ thê thảm của trò chơi chính trị được cò kè mặc cả ở những căn phòng
kín cửa.Đưa bàn tay chỉ còn một ngón, người sĩ quan của Trung Đoàn 57 Sư
Đoàn 3 chỉ vào tượng Chúa ở ngực đểnói “ “Tất cả những điều tôi nói là
sự thật - Đầu tháng Tư trấn giữ ở phía bắc Đông Hà chính mắt tôi thấy 6
khẩu đại bác của Bắc Quân khai hỏa ở Ngã Tư Sòng (Gio Linh) cách tôi
không đầy 3 cây số, phi cơ Mỹ được gọi tới và đánh cách mục tiêu 12 cây
số ... Khẩu đội đại bác Bắc Quân để sát cạnh đường vào làng Kim Môn dưới
chân đèo Ba Dốc, những điểm địa hình quá dễ nhận trên địa thế, vậy
không có một lý do nào bảo tôi nhầm lẫn chấm sai mục tiêu cả 12 cây số
!!Và rõ ràng nhấtlà ngày 25 tháng 7, ngày Tiểu Đoàn 5 Dù bám được bức
tường đá Cổ Thành Quảng Trị, chỉ có mỗi phi cơ A37 của Không Quân Việt
Nam yểm trợ cho đến 12g45, khi Nguyễn Tấn Sĩ thúc lính bòlên thành, buổi
chiều Không Quân Hoa Kỳ can thiệp, dội bom nội thành - Kết quả vì hai
trái bom đánh nhầm, Tiểu Đàn 5 mất đà, khựng lại và dội ngược ... Sư
Đoàn Dù trống ngã bến Chùa, đường qua sông Thạch Hãn về NHan Biểu, Ái Tử
- Đường tiếp vận của Bắc quân ... 9 tiểu đoàn Dù chỉ vừa đủ rải dài từ
Mỹ Chánh đến Quảng Trị, từ đường chiến thuật 556B ra đến quốc lộ một lữ
đoàn để chận con đường Ái Tử - Nhan Biều - Cổ thành là ước vọng tha
thiết của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù hay cũng chính của Tướng Trưởng ... Ước
vọng được căng dài trong 2 tháng không thực hiện !! Thế nên dù Tiểu Đoàn
5 Dù là tiểu đoàn hàng đầu của binh chủng, dù Tiểu Đoàn 6 là tiểu đoàn
đã làm phép màu ở An Lộc, hai tiểu đoàn này có gồm những người lính đúc
bằng thép cũng không thể dựng cờ Cổ Thành, không thể nào dựng được trong
những điều kiện thuận lợi tái người như đã nói.Vậy bám được bờ thành
như buổi sáng ngày 25 tháng 7 đã là một chiến công kỳ diệu. Chỉ có thể
làm được với Tiểu Đoàn 5 Dù, đơn vị đã khai sinh sau vi tướng cho quân
lực. Tướng Ngô Quang Trưởng khỏi đầu võ nghiệp cũng với Tiểu Đoàn 5 Dù.
Người Lính Việt Nam đã chiến đấu và tồn tại như một nhiệm mầu.
Trên mầu nhiệm bình thường lặng lẽ này Tổ Quốc điêu linh thở từng hơi
ngắn đớn đau nhưng bền bĩ ... Chư nghĩa hoàn toàn vô nghĩa trước chân
dung bi tráng hùng vĩ của người và quê hương.
Việt Nam tháng 10, 1972.
Đêm Trên Bờ Thạch Hãn
Định mệnh, phải gọi sức mạnh bí ẩn và linh thiêng đó thêm một
lần.. Phải, chỉ định mệnh mới có thể xếp đặt, dàn xếp tất cả tai ương,
hạnh phúc, địa ngục, thiên đàng cho con người.Những sự kiện kinh hoàng
nhất đã xẩy đến, những thống khổ đọa đầy nhất đã hiển hiện, tất cả tàn
khốc chất ngất chiến tranh đã ào xuống trên Quảng trị, kéo dài qua Đại
Lộ Kinh Hoàng trong mùa hè trước thì năm nay 1973, bắt đầu cho những
ngày hè mới trên thành phố tan nát nhỏ bé này - Thành phố, chữ viết đến
quá ngại ngùng ... Vì đống gạch đá vĩ đại kia có phải là một thành phố
không ? - trên đoạn đường số 1 mà chỉ 365 ngày trước đây, hàng ngàn
người đã nằm xuống với hiện thực của một địa ngục trần thế ... 365 ngày
đi qua, trên bụi cỏ còn vương dấu mảnh áo quần cháy nám của người chết,
trên lớp cát xám lạnh theo cơn gió đôi khi thoang thoảng mùi thịt da
chưa tanbiến hết và hằng ngày, hằng giờ trên Quảng Trị, “thành phố”
không tiếng nói, không nóc nhà, lũ chó hoang sục sạo tung hoàng tìm kiếm
mùi chủ cũ ... Trên dấu vết mới tinh của mùa hè khốc liệt vừa qua,
những ngày hôm nay, mùa Hè 73 là sân khấu để diễn ra một tấn kịch khác -
kịch Hòa Bình - Bờ sông Thạch Hãn, nơi trao đổi tù vĩ đại của một nền
hòa bình lạnh buốt sống lưng - Định mệnh, chỉ có sức mạnh siêu hình này
mới giải thích được
Máy bay đi qua An Lỗ, qua Phong Điền, qua Mỹ Chánh, trời mù
sương nên trực thăng bay sát mặt đường ... Tôi lại thấy cầu Dài, cầu
Ngắn, thấy hỗn độn trên cát trắng cảnh chết của toàn thể con người mà
dấu vết sau một năm dài vẫn còn hằng hằng trên màn mắt ... Nhưng trước
mặt, hai bên, trên chiếc trực thăng bây giờ tôi đang bị vây quanh bởi
nón ông soa, nón cối, áo đại quân, áo tác chiến vải kaki Nam định và
thuốc lá Điện Biên bay mùi khét ... Thượng Đế ơi, phải chăng người muốn
ném tôi vào một cơn đùa !!?Hằng ngày đi bộ từ nơi của Nghiêm, (Tiểu Đoàn
Phó TĐ ! TQLC) căn nhà lầu có lò gạch mà mùa Xuân Mậu Thân tôi đã đến ở
và chiến đấu ... Trí nhớ vận dụng tối đa cũng không thể xác định được
nơi chốn đã một lần trú ngụ ... Và Quốc Lộ 1, đường Nguyễn Hoàng, đường
Gia Long, trạm xăng xưa tôi và Mễ mua xăng theo lối “ủng hộ,” quán sách
đối diện Cổ Thành, quán bún bò ở bờ sông ... Tất cả chốn xưa mỗi ngày
mỗi giờ đi qua vẫn không thể tìm ra dấu tích ... Quảng Trị ơi, trái tim
muốn vỡ tan dưới tiếng than im lặng.Và tôi lại đến ngồi ở bến sông, nơi
tọa độ YD3 ... Lịch sự, hòa nhã, kiềm chế hết phẫn nộ, đè xuống hết tức
tưởi ... Thông báo cùng quý vị, thể hiện tinh thần hòa giải, thi hành
nghiêm chỉnh Nghị Định Thư ... Tôi phải đối mặt với một kẻ thù vẫn còn
rất mới. Ngày này, tại đây, mùa hè năm trước. Trước mặt, Quảng Trị tan
vỡ chập chùng qua lớp nước mắt vô hình
Thương thân, thương bè bạn, thương người, thương thành phố.Nỗi
thương mến mênh mông nhưng dày đặc, thương mến rộn rã đau đớn, thương
mến ngất bồn chồn ... Mỗi lần ngồi xuống chiếc canô chạy qua bờ bắc
Thạch Hãn, thấy lá cờ vàng phất phới trên điêu tàn - lòng trùng xuống,
độ phiền muộn sâu như hố thẳm ... Đêm khuya, sương mù mịt, trăng lạnh
dọi xuống giòng sông đang lách tách con nước về biểnxa, nhìn phióa núi
nơi bạn thân đang co mình dưới hầm để qua cơn pháo tập trung từ Gio Linh
đổ xuống ... Đêm qua dần dần, ngày đến, trăng lặn vào nơi xa, màu vàng
đục phiền muộn như nỗi uất ức ... Ngày hết hẳn, trời sáng, lính và dân
tập họp đầy ở bờ sông để đón “anh em mình” về và chứng kiến những phương
thức biểu lộ “đấu tranh cách mạng” hạ cấp, cố chấp và bỉ ổi của lũ tù
được trả về bên kia - Nơi không có con người ... Đứng trong đêm, nghĩ
chuyện trong ngày để thấy bội phục vô vàn lòng cao cả và sức chịu đựng
siêu đẳng của Người Việt Miền Nam - Những người lính vừa qua đêm dài
dưới pháo nổ và người dân còn hằn vết dấu kinh hoàng - Quảng Trị, nơi họ
chứng kiến lũ tù Cộng Sản đi qua thoảng tiếng tru của lũ chó hoang đi
tìm chủ
Lòng cố chấp và sự căm hờn, những khuyết điểm mà người viết dù ở
hoàn cảnh nào cũng phải nên chối bỏ. Nhưng trong hoàn cảnh đau đớn này,
phải cho tôi quyền phẫn nộ - Tính chất cần thiết để bảo vệ con người
trước bạo lực. Cuốn sách đã hình thành trong cơn đau đớn, lần in thứ hai
này người viết xin được gởi kèm theo một tình ý mới - Xin được coi như
một vũ khí bảo vệ con người. Lời nói không phải mang tính chất kệch cỡm
của một đại ngôn láo xược nhưng xin được nghĩ là sự cầu khẩn phát xuất
từ một người Việt Nam trong hoàn cảnh bi thiết hào hùng - Hoàn cảnh của
chính quê hương Việt Nam.
Một năm qua, những người lính được kể đến đã có nhiều biến đổi.
Rất nhiều người thay cấp bậc và chức vụ, nhiều người tạm biệt chiến
trường và những người đã ... chết.Bên cạnh đó, có những người sống lại,
những người trở về và hỏa ngục Cộng Sản đã được xác nhận là một thực
thể.Đồng thời những chuyến đi kế tiếp còn cho biết có rất nhiều trận lớn
đã không được ghi nhận, như trận “Quận Triệu Phong” của Tiểu Đoàn 1
TQLC, trận đánh mẫu chốt mở đường cho chiến dịch tái chiếm Quảng Trị -
Quận đường Triệu Phong , chốt chận đường tiếp vận của Bắc quân từ phía
bắc theo sông Thạch Hãn vào Quảng Trị. Thế nên, phải xin lập lại một lần
câu tạ lỗi.Một cá nhân trong thời gian giữa các chuyến đi không thể nào
có khả năng ghi nhận đủ toàn thể một cuộc chiến vĩ đại.Cuộc chiến vượt
hết cả cuộc chiến lịch sử chiến tranh loài người.
Quảng Trị- Tháng 3-73